Hiển thị các bài đăng có nhãn Cảm nhận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cảm nhận. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2009

Bạn tôi làm cha xứ

ĐOẠN SUY TƯ, KHI THẤY BẠN TÔI ĐI LÀM CHA CHÁNH XỨ

"Đẹp thay ! Ôi đẹp thay những bước chân gieo mầm cứu rỗi…".
Trong suốt tuần Bát Nhật Phục sinh, chúng ta nghe nhiều đoạn Tin mừng nói về việc Chúa Giêsu Phục sinh hiện ra với nhiều người khác nhau và sai họ đi loan báo Tin mừng Phục sinh cho mọi người.
Tiếp nối bước chân của các nhân chứng phúc âm. Hôm nay, ngày 18 tháng 04 năm 2009, ngày cuối tuần Bát Nhật Phúc sinh, Cha Giuse Phạm Chí Dũng, một người anh em trong lớp chúng tôi đã hăng hái lên đường, thi hành một sứ vụ mới : "Làm Cha Chánh xứ "- Giáo xứ Hảo Đước- Hạt Tây Ninh- Giáo phận Phú Cường.
Trong bài sai, Đức Giám Mục đã long trọng giới thiệu cha Tân chánh xứ với cộng đoàn : "Nhận thấy cha là một linh mục trẻ, sẵn sàng phục vụ bất cứ môi trường tông đồ nào…Nay tôi quyết định : Đặt cha làm cha Chánh xứ...!
"Làm Cha Chánh xứ " là làm cha nhiều người, hay người ta thường nói cho vui : Làm cha thiên hạ. Xét về khía cạnh con người : "Đẹp trai, học giỏi, làm cha xứ sớm"… ai mà chẳng thích; Có chức, có quyền ai mà chẳng ham; Còn trẻ được mọi người gọi là "Cha sở" ai mà chẳng thích, và "Làm Cha Chánh xứ " trước các cha cùng lớp trong giáo phận ở tuổi 40, xem ra rất đẹp cũng oai thật đấy chứ!
Nhưng xét về sứ mạng trong Thiên chức của người Mục Tử thì vẫn còn đó những nỗi lo . Bởi lẽ sứ mạng của người mục tử đâu chỉ dừng lại ở địa vị, chức quyền, hay danh vọng, cũng không chỉ dừng lại ở việc thi hành quyền bính như một vị quan quyền. Nhưng là bước khởi đầu cho một cuộc hành trình dấn thân phục vụ trong yêu thương, trong hy sinh và hiến mình cho đoàn chiên, bất chấp mọi gian lao, nguy hiểm cho tính mạng; theo gương Chúa Giêsu, Vị Mục Tử tốt lành : "Tôi chính là mục tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên"(Ga10,11); Là ra đi để họa lại chân dung của Đức Kitô bằng việc hiến thân mình làm tấm bánh bẻ ra để nuôi sống đoàn chiên : "Ta đến để cho chiên được sống và được sống dồi dào" (Ga10,10b).
Mỗi lần nhận bài sai thì cảm xúc dâng trào : vui buồn lẫn lộn, hạnh phúc và cay đắng; nước mắt và nụ cười như hiện ra trước mắt, đan quyện theo bước chân người mục tử.
Tôi nhớ lại lời một bài hát:
"Bạn ơi, qua nhà xin cạn chén ly vơi,
Ngày mai tôi đã đi xa rồi,
Thành đô lưu luyến chắn bước chân tôi
Trước giờ chia tay mấy ai không bùi ngùi,
Kỷ niệm buồn vui mãi ghi trong lòng tôi…"
Thay đổi một nơi chốn, một môi trường sống quen thuộc để ra đi hòa mình vào một nhịp sống khác…sẽ làm cho người tông đồ lần đầu tiên ngỡ ngàng, nhưng cuộc đời người mục tử nay đây, mai đó sống hoàn toàn theo ý Chúa sẽ làm cho người tông đồ trưởng thành hơn.
Vâng ! Với sứ mạng cao cả ấy, Cha cũng rất cần lời cầu nguyện, nâng đỡ và chia sẻ trách nhiệm của mỗi người chúng ta, để mỗi bước Cha đi luôn là một cuộc dấn thân phục vụ, để mỗi lời Cha nói sẽ đem lại niềm an ủi, mỗi việc Cha làm luôn đem lại sự bình an và hạnh phúc cho mọi người, để cuộc đời của Cha luôn mãi là lời ca :"Đẹp thay ! Ôi đẹp thay những bước chân gieo mầm cứu rỗi…đem tình thương và niềm vui của Chúa đến cho mọi người".
Ban Biên Tập

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2009

Lễ Truyền Tin đã qua, đôi điều suy nghĩ (Hạnh Nguyên)

Lễ Truyền Tin đã qua, nhưng động lại trong tôi đôi điều suy nghĩ.
Hình ảnh Mẹ Maria, một Evà mới, người mà ngàn đời trước và cả sau này vẫn luôn mãi khen ngợi: Mẹ "đầy ơn phúc ". Kể từ khi vang lên hai chữ XIN VÂNG, con người đã làm một bước giao hoà cùng Thiên Chúa.
"XIN VÂNG", nghe thật đơn giản, nhưng khi hai tiếng đó thốt lên từ môi miệng của Mẹ Maria, bộ mặt trái đất đã thật sự thay đổi.
Lễ Truyền Tin, ngày mà bằng công việc của mình, Sứ thần Gabriel đã giao hoà đất với trời, đã làm toả Ánh Bình Minh của Tình yêu vô bờ bến mà Thiên Chúa muốn ban phát cho con người nhỏ bé và thấp hèn.
Chỉ tính riêng trong Tân Ước, Sứ thần Gariel đã làm hai cuộc truyền thông vĩ đại:
- Loan báo sự sinh ra của Thánh Gioan Tiền Hô.
- Loan báo sự sinh ra của Chúa Giêsu trong cung lòng Đức Trinh Nữ Maria.
Có thể nói được rằng, Sứ thần Gabriel chính là ông tổ của việc thông tin. Chính xác hơn, Ngài là Thánh Tổ của ngành truyền thông, ngành mà tự nguyên thuỷ và bản chất của nó, là mang đến cho con người niềm Vui Mừng và Hy Vọng.
Vậy thì, điểm lại ngành truyền thông nước nhà năm qua, cộm lên muôn vàn chuyện nhức nhối:
- Một số nhà báo vì sự thật vụ PMU18, phải vào tù,
- Nhiều Tổng Biên tập hoặc phó Tổng Biên tập bị các chức hoặc cảnh cáo,
- Ngay cả những Tướng ngơ ngơ như Phạm Xuân Quắc cũng bị vào tù nốt,
- Rồi thì, chiến dịch ăn theo trong việc biến Toà Khâm sứ và đất Thái Hà thành hai công viên bất đắc dĩ.
- Huy động toàn bộ guồng máy truyền thông cắt xén, bôi nhọ Đức Tổng Gíám Mục Ngô Quang Kiệt,
- Đổi trắng thay đen trong việc xét xử 8 giáo dân Thái Hà nơi phiên toà sơ thẩm ngày 8/12/2008. Nghĩa là, không "cúi đầu nhận tội" mà nói là có, nào biết sự "khoan hồng của nhà nước" là gì mà nói là nhận.
..., ....
Những việc cần nêu như vụ Trường Sa, Hoàng Sa; cần minh bạch như biên giới lãnh thổ, cột móc 2 nước Việt Trung: lại mù mờ, qua loa, nói lấy có.
Một bức tranh ảm đạm, xám đen: không một niềm vui nào trong sinh hoạt dân chủ.
Một bức tranh không le lói chút "ánh sáng cuối đường hầm": không một tia hy vọng nào.
Kết quả: thế giới xếp loại hoạt động báo chí, truyền thông ở Việt Nam:169/173
Ngày mai, 27/3, phiên toà phúc thẩm tiếp tục xét xử vụ 8 giáo dân Thái Hà.
Báo Hà Nội mới và đài truyền hình VTV đã kịp lên khuôn phủ đầu.
Rồi thì chuyện dài của luật sư Lê Trần Luật, người bào chữa cho 8 giáo dân oan khiên: ngăn cản, đủ loại giấy mời, đóng cửa văn phòng...Có thể nói, đây là một hình thức khủng bố mới.
Tất cả nhằm làm chùn bước những đôi chân đi tìm Công Lý, nhằm làm nản lòng những ai mở miệng đòi Sự Thật.
Chúng ta, lương tri của những người đang tìm kiếm Chân Lý và Công Bằng, xin được cầu nguyện nhiều cho 8 giáo dân thái Hà trong phiên toà phúc thẩm.
Bởi vì, kể từ khi 2 tiếng XIN VÂNG diệu kỳ bật ra nơi môi miệng cô thôn nữ Maria diễm lệ:
- Ánh sáng Sự Sống đã đẩy lùi bóng đêm thần chết,
- Hoa Công Lý nẩy mầm tốt tươi trên mãnh đất cằn khô tội lỗi,
- Trái Sự Thật xua đi nổi oan khiên phiền lụy.
Và trong ngày 27/3, mai đây, chúng ta cùng nghe thấy tiếng: "Lạy Chúa, này con xin đến, để thi hành Thánh Ý Cha."

Hạnh Nguyên.

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2009

Album Nhật Ký 2004-2005

Thưa anh em, thoáng một cái, nay ngồi bấm ngón tay, thời gian đã là 10 năm rồi, kể từ khi bước chân vào Đại Chủng Viện Thánh Giuse.
để nhìn lại những kỷ niệm đã qua, mời anh em cùng xem lại bộ hình ảnh trong ALBUM Nhật Ký của năm học cuối cùng ở Chủng Viện.

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2009

Viết tiếp về người Linh Mục (Hạnh Nguyên)

Nhân đọc bài "Giáo dân và LM" và "Làm thế nào... để có những TDN mới?"

Ngày nay, trong xã hội đầy dẫy những điều mà chúng ta không bao giờ ngờ tới.
Có những sự việc xãy ra một cách trật tự và bài bản, nhưng, cũng có những sự việc xãy ra ngoài sự tiên liệu của mọi người.

Vẫn biết Linh Mục là một khái niệm rộng lớn và thánh thiên. Nhưng riêng tôi, đã biết bao lần, tôi vẫn tự hỏi: Linh Mục, người là ai ?
Là người được Giáo hội tín nhiệm, thay mặt Chúa thông ơn, làm cho mọi người thấy được sự liên kết trọn vẹn từ LM đến Chúa Kitô và từ LM đến con người. Qua bàn tay LM, chúng ta tìm được niềm an ủi trong cõi lòng, cho tâm hồn trở nên nhẹ nhàng và thánh thoát.

Trong xã hội, không ít nhiều cách sinh hoạt, xử lý của LM đối với giáo dân làm cho họ không thấy thoải mái và việc xử lý có tính áp đặt.
Những lần như vậy, làm tạo khoảng cách và mất đi tính thân mật trong tương quan giữa giáo dân và LM. Hình ảnh đẹp của Chúa Ki Tô mà LM muốn giới thiệu cho, vô tình, mất đi vẻ sống động và hoàn hảo.

Với tôi, một giáo dân dưới mức trung bình trong giáo xứ tôi. Tôi cũng từng bị va chạm trong những tình huống mà bản thân tôi không tâm phục khẩu phục. Cũng rất may trong tình huống ấy, tôi đã kịp kìm chế để khỏi bật ra thái độ của mình.

LM cũng như bao nhiêu người, họ cũng bằng da, bằng xương, bằng thịt và máu của họ cũng như máu chúng ta thôi. Trong cuộc sống nếu chúng ta có vấp ngã thì LM cũng vấp ngã. Ở các LM có sự mỏng dòn cũng như pha lê vậy. LM như một vật đồ trang sức, rất cần những ngưởi thợ gọt đẻo tôi luyện để trở nên một món đồ đẹp và giá trị.

Xin hiểu các LM và thông cảm các LM.
Sự cô đơn đi liền với người LM suốt cuộc đời. Chỉ một ý nghĩ hay hành động thiếu tích cực sẽ tác động mãnh liệt. Xin được gần gũi để các LM không cảm thấy cô đơn. LM sống trong sự cô đơn dằng xé của mọi sự cám dổ, đến lúc nhiều khi cảm thấy nhát đảm và thiếu sự trung thành. ....
Hãy chia sẻ và đồng cảm hơn là chúng ta lên án các LM. Hãy để cho các LM tìm thấy được sự thoải mái tâm hồn trong cuộc đời tận hiến.
Xin đừng khuấy động tâm hồn các ngài.
Một vài bài viết, một vài ý kiến làm ảnh hưởng rất nhiều trong đời sống tu trì.
Xem ra, sự cô đơn gắn liền với tính vô cùng nhạy cảm..
Xem ra, vẫn còn rất nhiều ánh mắt khắc khe, đòi hỏi nơi các LM.

Nhớ lại, có lần tôi nói đùa vui với Cha phó xứ tôi: "Đầu lễ cha xứ khủng bố, cuối lễ cha phó khủng bố. Sợ quá !". Câu nói này đã được cha xứ tiếp nhận và nhiều lần đưa vào bài giãng với thái độ rất vui vẻ và trọng thị cộng thêm lời xin lỗi nếu mất lòng ai đó. Một câu nói vui, mặc dầu ý nghĩa có như thế nào đi nữa, khi nghe Cha xứ nói, tôi đã phải chạnh lòng....

Viết ra những ý nghĩ trên đây, tôi xin chia sẻ với những người đã từng một lần không được vừa ý về lời nói và hành động của LM. Xin hãy tha thứ tính người của LM.
Xin cho các LM yên tâm làm công việc vác thánh giá hằng ngày mà theo Chúa.

Chúng ta hãy nhìn vào 98% những điều tốt đẹp mà các LM đã từng làm mà quên đi 2% con số nhỏ bé này.
Với tôi có một điều chắc chắn rằng cho dù ở môi trường nào LM cũng chỉ muốn làm điều tốt cho chúng ta mà thôi.

Trên đây là những ý nghĩ thô thiển của một giáo dân-tân tòng. Dĩ nhiên, vẫn cần những mỹ từ, những lời hay ý đẹp. Nhưng cần hơn nữa, vẫn là sự hiểu biết, thông cảm sâu sắc, sự chân thành. Được như vậy, tính cách của người-LM thêm phần hoàn thiện.

Một LM tầm thường, sống thực tế và biết gần gũi, kịp thời chia sẻ đồng cảm với giáo dân, tôi vẫn thích hơn.

Hạnh Nguyên

Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2009

Ngược đời

Nhiều khi suy gẫm đời Chúa, tôi thấy Chúa có những đường lối khác hẳn những gì tôi tưởng nghĩ:

Tôi tưởng Chúa phải chọn một phụ nữ giàu sang quyền quý làm mẹ. Ai ngờ Ngài đã chọn một thôn nữ nghèo.


Tôi tưởng Chúa phải giáng trần trong một đền đài giữa thành thị phồn hoa. Ai ngờ Ngài đã sinh ra trong chuồng bò giữa cánh đồng lạnh vắng.


Tôi tưởng Chúa sẽ làm gì để ngăn cản vua Hêrôđê, không cho ông lạm quyền ra lệnh hạ sát các trẻ nhỏ với thâm ý tiêu diệt Đấng Cứu Thế. Ai ngờ Chúa lại âm thầm để Đức Mẹ và thánh Giuse đưa Chúa trốn đi, đang khi bao trẻ vô tội phải bị chết oan.


Tôi tưởng Chúa thấy gia đình Chúa làm ăn vất vả, thì sẽ ra tay làm phép lạ cho cha mẹ được dư dả, để các Ngài được thong thả an nhàn sung sướng. Ai ngờ Ngài và cha mẹ Ngài cũng cứ mần ăn vất vả như mọi người lao động khác.


Tôi tưởng Chúa xuống trần cứu thế, thì phải tính chuyện cứu thế một cách cấp kỳ, sớm ngày nào hay ngày đó. Ai ngờ Ngài cứ lẳng lặng sống âm thầm suốt 30 năm, rồi mới giảng dạy.


Tôi tưởng Chúa phải ra mắt dân chúng trong một cuộc đại lễ rầm rộ, có cờ xí phất phới, có tiền hô hậu hét, có tuyên ngôn nảy lửa, có dân chúng hoan hô. Ai ngờ Ngài lại trà trộn giữa đám đông đến xin Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho mình như một người tội lỗi. Chính trong cảnh ấy, Gioan đã giới thiệu Ngài với dân chúng bằng một câu đơn giản: " Đây là Chiên Thiên Chúa, Ngài sẽ cất tội lỗi thế gian". Đồng thời, Chúa Cha và Chúa Thánh Thần cũng chỉ giới thiệu một lời vắn tắt: "Đây là Con chí ái của Ta, kẻ Ta hết lòng yêu dấu".


Tôi tưởng Chúa sẽ xây dựng Nước Trời bằng cách mua khởi sự một khu đất; lập một trụ sở, cất một thánh đường. Ai ngờ suốt cuộc đời Ngài chỉ lo xây dựng Nước Chúa trong lòng người ta.


Tôi tưởng Chúa sẽ tuyển lựa rất nhiếu cán bộ học thức và nhiều thế giả. Ai ngờ Ngài chỉ chọn 12 người trong đám dân thường.Tôi tưởng Chúa sẽ chọn một người có nhiều bằng cấp và không có chút tì ố gì làm đại diện Ngài lãnh đạo Giáo Hội. Ai ngờ Ngài chọn một dân chài quê mùa đã công khai ba lần chối Chúa.


Tôi tưởng Chúa sẽ bắt các môn đệ Ngài mặc một thứ đống phục nào hay đeo một thứ huy hiệu nào để người ta dễ phân biệt họ với người khác. Ai ngờ Ngài lại bảo: " Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thấy, là các con yêu thương nhau".


Tôi tưởng Chúa sẽ căn dặn môn đệ phải lo năng đi nhà thờ, xem lễ, chịu khó vâng lời, giữ mình sạch sẽ và cho đó là những điều quan trọng nhất làm nên người đạo đức thánh thiện. Ai ngờ Ngài lại cứ nhấn mạnh hoài đến đức yêu thương và gọi đức yêu thương là điều răn mới và trọng bậc nhất của đạo Ngài.


Tôi tưởng Chúa sẽ cứu chuộc nhân loại bằng cách nói với Đức Chúa Cha vài lời như cách người ta thường can thiệp với các ông lớn. Ai ngờ Chúa lại chọn cách chịu chết nhục nhã đau đớn quá như vậy.


Tôi tưởng suốt 33 năm dài, Chúa có dư sức và dư thời giờ để bắt mọi người phải tin phục Chúa và thiết lập nên một Giáo Hội đầy chiến thắng vẻ vang. Ai ngờ Chúa đã chết như một người thất bại, các môn đệ nòng cốt bỏ trốn và số người tin lúc đó chẳng được bao nhiêu...Thật, có lúc tôi nghĩ Chúa làm lắm cái coi ngược đời quá. Giá như tôi là Chúa, tôi sẽ giải quyết mọi chuyện một cách dễ dàng như chơi và tôi tưởng tôi khôn ngoan nhất vũ trụ.


Nhưng đọc kỹ lại Phúc Âm, tôi thấy tôi tính toán trật lất. Thì ra đường lối của Chúa nhiều khi khác hẳn đường lối của tôi. Chúa nhìn xa thấy rộng, thấu hiểu mọi sự, biết rõ điều hay điều dở. Còn tôi thì thiển cận nông nổi dại dột. Thế mà nhiều khi tôi lại dám kêu trách Chúa.


Bao lần cầu nguyện, nhưng thực ra là tôi đặt chương trình cho Chúa và đòi Chúa thực hành. Không được như ý thì tôi đâm ra khó chịu.Nhiều khi tôi định một đàng lại xảy ra một nẻo. Cả những việc tôi tưởng sẽ làm vinh danh Chúa, thế mà cũng bị thất bại. Lúc đó tôi dễ chua xót và chán nản.


Nhưng khi đọc đi đọc lại Phúc Âm và suy gẫm lời Chúa trong tinh thần cầu nguyện, tôi mới thấy rõ Chúa khôn ngoan vô cùng trong hết mọi việc, còn tôi ngu xuẩn hết chỗ nói. Một khi nhìn nhận điều đó một cách chân thành, tôi thấy lòng tôi bình an, nhẹ nhàng và dễ dàng phó thác. Cũng nhờ đó tôi mới hiểu được nhiều ý nghĩa của hiện trạng Giáo Hội và quê hương.


Thì ra lầm lỗi lớn nhất của tôi từ trước tới giờ là ít tìm Chúa trong Phúc Âm. Trong đó Chúa dạy tôi rõ ràng đủ mọi chuyện.


Tôi lầm lạc là tại tôi....!


sưu tầm

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2009

Kỷ niệm về anh Quản Trọng Hải











Chúa Là Nguồn Vui Của Con (Thanh Kiều)

Lời của một bài hát: “Lạy Chúa, trong cuộc sống con đã gặp biết bao buồn vui…, làm con lo âu cho những ước mơ khi nhìn về tương lai. Con như người lữ hành lang thang tìm một hướng đi. Con như con chiên lạc băn khoăn đi tìm nơi tựa nương. Xin Chúa là ánh sao đêm soi dẫn con đi trên đường. Xin Chúa là nguồn sống con trào dâng một đời bình yên”.
Trong cuộc sống, ai cũng mong muốn cho mình được bình an, hạnh phúc và tràn đầy niềm vui. Mỗi người tìm cách đem lại cho mình càng nhiều niềm vui càng tốt. Thế nhưng niềm vui đó ở đâu? Làm sao để giữ mãi niềm vui ấy, và làm thế nào để lan tỏa niềm vui ấy cho anh chị em?... Thao thức, trăn trở để tìm lời giải thích cho những vấn nạn đó, và câu trả lời mà tôi đã tìm ra : “Chúa là nguồn vui của con”, và tôi dùng nó làm đề tài suy niệm cho sứ vụ linh mục của mình.
1. Chúa là nguồn vui của con : Khi con bình an
- Niềm vui trong cuộc đời: quý giá, mau qua, đôi lúc giả tạo.
Sống trong cuộc đời ai mà không muốn được an vui. Nhưng niềm vui trong cuộc đời này có nhiều thứ hạng: có những niềm vui nhỏ bé khi chu toàn công việc bổn phận hằng ngày; có những niềm vui lớn hơn khi thành công, hay khi thực hiện được một ước mơ nào đó; có những niềm vui kèm theo vinh dự, nhưng cũng có những niềm vui sau đó để lại trong lòng người một sự xót xa, hối hận và thương đau. Chúng ta không thể không quan tâm đến những niềm vui trong cuộc đời này. Nhưng dù niềm vui ấy thanh cao, tốt đẹp đến mấy đi nữa, nó cũng mau qua và chỉ để lại trong ta những kỷ niệm. Nói cách khác : niềm vui nhường chỗ cho niềm vui, và cuộc đời con người được đan dệt bằng những niềm vui như thế. Niềm vui thôi thúc con người không ngừng tìm kiếm, dù biết rằng nó mau qua, chóng tàn. Con người nhiều lúc cũng khắc khoải và trongự hỏi : Tại sao niềm vui cuộc đời này mau qua như thế? Có niềm vui vĩnh cửu chăng?
- Chính Chúa đem lại cho tôi niềm vui đích thực.
Niềm vui đích thực là niềm vui để lại trong tâm hồn con người sự mãn nguyện và không đem lại sự hối hận, dằn vặt, bất an. Niềm vui ấy là phản ánh Niềm Vui Vĩnh Cửu. Nói cách khác, niềm vui ấy là hình bóng, là phản ánh chính Chúa vì Ngài là nguồn vui. Mọi niềm vui đều đến từ chính Thiên Chúa, nên những niềm vui ấy dù nhỏ bé, mau qua, nó cũng đem lại bình an, hạnh phúc cho con người vì nó được chia sẻ Niềm Vui Tuyệt Đối là chính Chúa. Thế nên, qua việc tìm kiếm những niềm vui chân chính trong cuộc sống, con người cần phải tìm đến chính Chúa, bởi “Chúa là nguồn vui” như lời Thánh vịnh 37,4 :
“Hãy lấy Chúa làm niềm vui của bạn,
Người sẽ cho được phỉ chí toại lòng”.

- Niềm vui được sống trong tình thương của Chúa.
“Chúa là nguồn vui của con”. Xác tín ấy cũng chính là cảm nghiệm được sống trong tình thương của Chúa. Càng cảm nhận sâu xa tình yêu Chúa dành cho mình, tôi càng cảm nhận được niềm vui đầy tràn. Và niềm vui ấy sẽ tồn tại mãi bởi lúc nào Chúa cũng yêu thương tôi. Xác tín ấy là nguồn lực giúp tôi biết hành xử thế nào cho xứng đáng mỗi khi gặp thất bại, buồn chán trong sứ vụ linh mục mai ngày.
2. Chúa là nguồn vui của con : Khi con buồn phiền, thất bại.
- Buồn phiền, thất bại phải chăng là “họa”
Người ta xưa nay vẫn coi những may lành, thành đạt là “Phúc”; còn những rủi ro, thất bại là “Họa”. Thế nên khi gặp sự lành họ cho là được Chúa ban ơn; còn khi gặp sự dữ thì họ cho là bị Chúa phạt. Quan niệm đó phải chăng cần sửa đổi? Ông Gióp gặp sự dữ và bạn bè xem ông là bị Chúa phạt. Gióp phân trần với Chúa và ông chất vấn với Ngài : “Tại sao tôi sống theo lề luật và thánh ý Chúa lại gặp phải sự dữ như vậy”? Từ cuộc đời của ông Gióp, tôi nhận ra rằng : cái mà người ta quan niệm phúc hay họa đều mang tính tương đối. Tương đối bởi vì : “Niềm vui của người này có thể là nỗi khổ của người kia; cũng như phúc của người này có khi lại là họa của người khác” và ngược lại. Một cách nhìn khác có lẽ đúng hơn : phúc và họa là phương tiện để đem lại cho con người ơn cứu độ nếu con người biết đón nhận nó trong đức tin.
- Chúa yêu thương, dẫn dắt để mỗi người đạt được ơn cứu độ.
Thật vậy, Chúa dẫn dắt mỗi người mỗi cách khác nhau và Ngài mong muốn con người đạt được ơn cứu độ. Có khi Ngài dùng cái gọi là “phúc” để dẫn chúng ta đi. Có khi Ngài dùng cái gọi là “họa” để giúp chúng ta thăng tiến. Thế nên, phúc hay họa đều cần để đưa chúng ta đến nguồn ơn cứu độ. Nói cách khác, nếu chúng ta nhận ra được “may” “rủi” đều là ơn của Chúa, chúng ta sẽ dễ dàng đón nhận thánh ý của Ngài. Đó chính là tiền đề đem lại cho chúng ta niềm vui.
3. Chúa là nguồn vui của con : Trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời.
Từ những suy nghĩ trên tôi cần :
- Khám phá Chúa hiện diện với tôi khi an vui cũng như khi buồn phiền, khi thành công cũng như khi thất bại, phúc cũng như họa. Tất cả là hồng ân cứu độ. Khám phá ra chương trình thánh ý Thiên Chúa là điều hết sức cần thiết. Có khi Chúa dẫn ta đi trên con đường rộng, đầy hoa thơm cỏ lạ; có khi Ngài muốn ta đi trên con đường hẹp, đầy chông gai, thử thách. Dù đường đi “rộng” hay “hẹp”, chúng ta cần xác tín rằng Chúa thương tôi, Chúa muốn đem lại cho tôi niềm vui tràn đầy. Xác tín ấy giúp tôi không tự cao, tự mãn khi thành công trong mục vụ, trong đời sống tâm linh… Xác tín ấy giúp tôi không chán nản, thất vọng khi gặp khổ đau, thử thách hay thất bại trong đời sống tâm linh cũng như mục vụ.
- Khám phá Chúa là nguồn vui mời gọi tôi sống gắn bó với Ngài. Càng gần Chúa, niềm vui của tôi càng được lớn hơn. Niềm vui ấy lớn nhất khi tôi nói được như Thánh Phaolô: “Tôi sống nhưng không còn là tôi sống, mà là Chúa Kitô sống trong tôi”. Thế nên, tôi phải sống và làm chứng cho niềm tin của mình vào Chúa. Niềm tin ấy được thể hiện qua niềm vui bên ngoài của đời tôi. Niềm tin ấy gắn liền với trạng thái bình an nội tâm mà tôi có được nhờ sự gặp gỡ và sống thân tình với Chúa.
- Đời linh mục là cuộc đời an vui : Dấu chỉ ơn gọi, và điểm tựa tinh thần cho các tín hữu.
Một phản chứng rõ ràng mà tôi cần phải tránh trong đời linh mục của mình đó là tính nóng nảy, cáu gắt, quyền hành… tất cả những biểu hiện đó nói lên rằng : linh mục ấy không có niềm vui nội tâm. Nói đúng hơn là linh mục ấy để Chúa sống bên ngoài cuộc đời của mình. Bởi thế, bình an nội tâm thể hiện qua niềm vui tươi nở trên môi là dấu chỉ rõ ràng linh mục sống đúng ơn gọi của mình. Đó cũng chính là điểm tựa nâng đỡ đời sống đức tin của các tín hữu rất nhiều.
- Tin tưởng, phó thác : trong công việc mục vụ, không phải lúc nào mọi chuyện đều suông sẻ. Đó không đơn thuần là quy luật tự nhiên, song là cơ hội để linh mục sống khiêm tốn và tạ ơn khi thành công, nhẫn nại và tín thác khi thất bại. Nói tóm lại : trong đời sống mục vụ tất cả đều là hồng ân, nhưng cũng cần kiểm điểm lại chính mình để thấy rõ hơn sự giới hạn của mình, đồng thời để khám phá sâu hơn Thánh Ý nhiệm mầu của Thiên Chúa.
Thay lời kết
Rất nhiều hôm, tôi ngồi đọc lại những trang nhật ký của đời mình, có nhiều trang tôi muốn xé đi, bao ước mơ và lời cầu của tôi không được nhậm lời. Nhiều biến cố vui buồn trải dọc cuộc đời không đủ làm đời tôi thêm vui, và tôi thầm nghĩ : tình Chúa thật xa vời. Có lúc tôi cảm thấy xa hẳn tình người dù họ đang sống bên tôi.
Nhưng, có một hôm ngồi đọc lại lịch sử đời mình đã qua, tôi mới rướm lệ và nhận ra : Chúa luôn ở với tôi, Chúa là nguồn vui của tôi. Từng sợi chỉ xanh, đỏ, tím, hồng trong cuộc sống tưởng chừng như vô nghĩa, nhưng không ngờ giờ thành bức thảm tuyệt vời, điều tôi tưởng như là thất bại lại chính là một thành công. Một bàn tay vô hình đã dẫn dắt tôi qua muôn quãng đường đời với bao biến cố vui, buồn… biến cố nào cũng giúp ích cho tôi. Giờ tôi mới hiểu: chính Chúa đã ban ơn qua điều Ngài từ chối, và tôi thầm cám ơn Chúa thật nhiều.
Vâng, Chúa là thế đó!
17.07.2007
Giuse Nguyễn Thanh Kiều

Hành Trình Ơn Gọi (Thanh Kiều)

“Chúa dựng nên con chẳng cần đến con,
nhưng cứu độ con Ngài cần con đáp lời…”
(Thánh Augustino).
Ơn gọi là một mầu nhiệm của tình thương Thiên Chúa dành cho mỗi người. Đã gọi là mầu nhiệm thì không ai định nghĩa được, mà người ta chỉ có thể diễn tả ơn gọi dưới một khía cạnh nào đó. Chẳng hạn như đó là một cuộc hành trình của một người khao khát kiếm tìm Chúa; hoặc là một cuộc gặp gỡ cá nhân từ trong sâu thẳm của một người với Thiên Chúa…, và chính đương sự khi nhận ra mình có ơn kêu gọi, thì họ đã được Thiên Chúa chọn gọi từ lâu rồi. Riêng tôi suy nghĩ về ơn gọi, tôi nhận ra ơn gọi của mình có một điều gì đó luôn mới mẻ. Chính vì thế qua mỗi giai đoạn, sau từng kỳ nghỉ…, tôi đều được mời gọi phải định hướng, xác định và làm mới lại ơn gọi của mình.
Tôi được sinh ra và lớn lên trong một gia đình “đạo theo”. Ba tôi khi còn niên thiếu, đang lúc đi chăn nuôi ngoài đồng thì bị giặc bắt. Qua một thời gian bị tạm giam, ba tôi được trả tự do nhưng mất liên lạc với gia đình. Kể từ đây, ba tôi bắt đầu một kiếp sống lang thang, phiêu bạt trên khắp các đướng phố Hà Nội nhưng cũng rất may là : tình cờ, ba tôi gặp được một Dì phước, nhận ba tôi làm con nuôi về sống trong một cô nhi viện…, rồi ba tôi được học đạo và theo đạo. Sau biến cố này, ba tôi dần dần liên lạc được với gia đình, nhưng khi nghe biết ba tôi theo đạo Công Giáo, gia đình đã khước từ luôn…
Ba tôi tiếp tục theo Dì phước, được Dì lo việc hôn nhân gia đình, rồi di cư vào Nam (1954). Cuộc sống vẫn tiếp diễn và tôi được sinh ra…
Ngay khi còn nhỏ, thấy anh em tôi siêng năng đi lễ nhà thờ, nên chúng bạn thường gọi đùa anh tôi là đức cha, gọi tôi là cha. Nghe thì biết vậy, nhưng thực sự cũng chẳng hiểu và cũng không có phản ứng gì. Rồi lớn lên, anh tôi xin đi tu, nhưng không thành vì hoàn cảnh đổi thay của đất nước (1975).
Riêng tôi lúc đang học cấp cơ sở, gia đình muốn cho tôi đi tu, nên má tôi dẫn tôi đến trình cha sở, nhưng vì chưa có ý hướng đi tu nên khi được cha sở hỏi : con có muốn đi tu không? Tôi lặng thinh không nói gì. Cha sở liền nói với má tôi: “Bà cứ đưa nó về, khi nào nó muốn đi tu thì để tự nó đến gặp tôi”. Sau khoảng hai năm khi tôi đang học trung học, ý hướng đi tu chợt đến, tôi đã tự ý đến gặp cha sở trình bày ước nguyện và được ngài chấp thuận.
Tôi đi tu cũng với một lý do rất bình thường như bao bạn bè cùng trang lứa, đó là thích được giúp lễ (Ở xứ tôi chỉ những em nào có ý hướng đi tu mới được nhận vào giúp lễ), và ước nguyện của tôi đã thành hiện thực : tôi giúp lễ cho cha sở và được ngài hướng dẫn ơn gọi suốt bốn năm, bị gián đoạn bởi ba năm thi hành nghĩa vụ quân sự. Xuất ngũ trở về mọi sự phải khởi đầu lại, tôi đâm ra chán nản, không còn muốn tiếp tục ơn gọi nữa! (có thể nói đây là thời gian Chúa thử thách ơn gọi của tôi).
Nghe lời một người bạn đang dự tu Dòng Gioan Bosco đề nghị chuyển hướng, tôi cũng nghe theo và mọi việc xem ra suông sẻ, thuận lợi (theo suy nghĩ của tôi), thì một biến cố đã làm thay đổi cả cuộc đời tôi : sau một tuần ở nhà Dòng, tham gia các sinh hoạt của nhà Dòng, Cha Bề Trên đã đồng ý cho tôi tiếp tục tìm hiểu ơn gọi trong Dòng…, ngài cho tôi về nhà ba ngày để thu xếp mọi thứ cần thiết, rồi trở lại nhà Dòng; hai ngày trôi qua bình thường cho đến chiều ngày thứ hai, tôi nhận được thư mời của văn phòng Tòa Giám Mục Xuân Lộc gọi về, và được cha phụ trách chủng sinh sắp xếp cho tôi được tiếp tục ơn gọi tu triều tại Giáo phận, vì trước đây tôi đã ghi danh tìm hiểu ơn gọi tại Xuân Lộc. Kể từ đây, tôi được hướng dẫn, học hỏi và theo đuổi ơn gọi cho đến ngày hôm nay. Ngày 08.08.2007, tôi được thụ phong linh mục. Tôi đã trở nên linh mục của Chúa và của mọi người.
Một thoáng nhìn lại hành trình ơn gọi của mình, tôi thấy đường lối của Chúa thật là nhiệm mầu, chương trình của Chúa thật hay; đôi khi xem ra nó đi ngược lại với đường lối, chương trình của riêng mình. Và giờ đây, tôi chỉ biết một điều : Chúa đã dựng nên tôi cho Chúa và Chúa đã cho tôi vào đời với một mục đích riêng, với tất cả ơn của Ngài đủ cho tôi. Phần tôi, đã chọn theo Chúa, tôi phải dứt khoát từ bỏ tất cả, từ bỏ chính mình, để thánh ý Chúa mỗi ngày được thành toàn nơi tôi.
Hôm nay, con được đến đây để cùng với Cộng đoàn dâng Thánh lễ tạ ơn Thiên Chúa. Con nguyện suốt đời con sẽ mãi mãi là bài ca tạ ơn Chúa, vì con hiểu rằng : nếu con biết cám ơn những gì con đang có, con sẽ biết cám ơn những gì người khác làm cho con, và con sẽ biết tạ ơn Chúa về tất cả những gì Chúa đã làm cho con và đã thương con như thế.
Kính xin cộng đoàn thêm lời cầu nguyện cho con và cho các linh mục được trung thành với Chúa và trọn đời nhiệt thành với sứ vụ.

Tháng 8.2007
Giuse Nguyễn Thanh Kiều

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2009

Đám cưới bạn tôi


Hồi xưa, có hai chủng sinh học cùng lớp ở chủng viện, một người thôi tu ra ngoài học, một tiếp tục cho tới khi làm linh mục. Đến lúc lập gia đình, anh thanh niên kia nhất định mời bạn làm phép cưới cho mình. Cũng như mọi đôi khác, cha bạn chủ tế hỏi anh : “Giuse… có muốn lấy Maria… làm vợ theo phép hội thánh chăng?". Anh tủm tỉm đáp nhỏ : "không muốn thì đến đây làm gì?".
Tôi và số một đông các cha được mời tham dự lễ cưới của một anh bạn cùng lớp. Đến lúc cử hành hôn phối, tôi chợt nghĩ : “Có khi nào anh bạn tôi thay đổi quyết định không nhỉ?” chuyện đó đã không xảy ra, anh bạn tôi đã thành hôn ngập tràn hạnh phúc. Thế đấy, hôn nhân cũng là một ơn gọi mà ơn gọi nào cũng là một mầu nhiệm, đã gọi là mầu nhiệm thì không thể định nghĩa được, mà người ta chỉ diễn tả dưới một khía cạnh nào đó như : Hành trình của một người đi tìm một nửa của mình, và khi tìm ra thì họ đã được Thiên Chúa chọn gọi từ lâu rồi.
Cầu chúc cho tình yêu của đôi bạn được Chúa chúc phúc và gìn giữ, để đôi bạn luôn sống hạnh phúc trong tình yêu Chúa, và sống vui trong tình thương của mọi người. Amen.
Một linh mục cùng lớp



















Bộ sưu tập hình hang đá máng cỏ

Liên kết các Blog

  • - CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN – B KÍNH TRỌNG THỂ ĐỨC MẸ MÂN CÔI Is 61,9-11; Gl 4,4-7; Lc 1,26-38 CHỦ ĐỀ: MARIA, NGƯỜI NỮ ĐỨC TIN SỨ ĐIỆP: Siêng năng lần hạt; ca...

Album CHẶNG ĐÀNG THÁNH GIÁ

Album SAO CON KHÔNG CÓ LỜI RU

Lượt xem:

Web Page Traffic Counter

Powered By Blogger