Hiển thị các bài đăng có nhãn tài liệu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tài liệu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2009

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2009

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2009

SỰ THÀNH THẬT (Đức Cha Nicola Huỳnh Văn Nghi)

Hằng năm, vào ngày 1 tháng 4 dương lịch, được gọi là ngày “Con Cá Tháng Tư”. Người ta thường cợt giỡn bằng cách đánh lừa nhau. Người vô ý thường bị gạt, người đánh lừa thành công thì vui mừng, giữa bà con láng giềng, giữa bạn bè, và ngay cả giữa những người có chức vụ cao cấp và không ai đuợc phép giận! Miễn là sự nói dối hay đánh lừa này không làm thiệt hại ai, và chỉ được phép trong ngày 1 tháng 4 đó mà thôi!.
Con người được Thiên Chúa tạo dựng trong sự thật.
Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh và như họa ảnh của mình (x.st 1,26). Người là sự thật (x. Gia 14.6); lời Người là sự thật (x. Ga 17,17) và Thần Khí Người là sự thật (x.Ga14,17). Do đó, tự bản chất và ngay từ buổi đầu, con người đã được tạo dựng theo mẫu Sự Thật. Là Sự Thật, Thiên Chúa đã tạo dựng đâu ra đó: thảo mộc, tôm cá, chim trời, sinh vật và loại nào theo loại nấy (x. St 1,11.21,22) và sau hết là con người, nam và nữ, theo hình ảnh và như họa ảnh của Người (x. St 1,26).
Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo Dạy: Cựu ước nhận Thiên Chúa là nguồn mạch Chân Lý. Lời Người là Chân Lý (x. 2Sm 7,28); Luật Người là Chân Lý (x.Tv 119.1420; Lòng Tín trung của Người tồn tại đến muôn đời (x. Lc 1,50). Bởi vì Thiên Chúa là đấng chân thật (x. Rm 3,4) nên mọi thành phần Dân Người được mời gọi sống trong Chân Lý (x. Lc 1,50)(GLCG số 2465).
Chúa Giêsu cũng đã từng mặc khải Người là Chân Lý (x. Ga 14.6), đầy ân sủng và Chân Lý ( x. Ga 18,37). Người đến thế gian để làm chứng cho Sự Thật (x. Ga 18,37). Người chỉ nói Sự Thật (x. Ga 8,40.44.46) và dạy các môn đệ: “Lời nói của các con phải là có thì nói có, không thì nói không, thêm điều đặt chuyện là bởi ma quỷ mà ra” (Mt 5,37). Người còn dạy các ông: “Sự thật sẽ giải phóng các con” (Ga 8,32).
Chân thật là một nhân đức giúp con người thành thật trong các hành vi và lời nói, không gian dối, giả vờ và giả hình.
Sự thật trong đời sống xã hội.
Ngày 1 tháng 4 dương lịch là ngày vui cười, gạt gẫm nhau, nhưng phải với những điều kiện là:
Không gây thiệt hại cho người khác về vật chất cũng như tinh thần.
Không làm cớ cho người khác nói hay làm những điều xấu.
Không làm gương xấu cho những người nhỏ bé, nhất là các trẻ em ( x.Mt 18,6).
Nhưng mặc dù với những điều kiện nói trên, sự thiếu chân thật trên nguyên tắc vẫn là một vấn đề trầm trọng. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo viết: “Người ta sẽ không thể sống chung với nhau được, nếu không tín nhiệm nhau, nghĩa là không cho nhau biết sự thật. Đức tính chân thật đòi chúng ta cho người khác biết sự thật họ có quyền biết. Người chân thật vừa lương thiện vừa cẩn mật: nói điều phải nói và phải giữ kín điều phải giữ kín. Theo đức công bình, người ta phải thành thật với nhau” (số 2469).
Cần có sự thành thật với nhau trong gia đình, để tạo sự tín nhiệm và yêu thương nhau, đồng thời để làm gương và giáo dục con cái. Hãy sống chân thật và đúng đắn với căn tính, tức là sự thật của mình, theo ý định của Thiên Chúa khi tạo dựng. Không gian dối giả hình, tránh những hành vi, những dự tính buộc phải che giấu nhau. Nhiều gia đình đã tan rã vì vợ chồng thiếu thành thật. Hãy bảo vệ con cái tránh sự gian dối. Hãy cùng nhau xây dựng một thế hệ mới chân thật, ngay thẳng, trung thực và công minh.
Cần sự thành thật trên thương trường, mậu dịch và trong mọi ngành nghề. Gian dối, lươn lẹo, lường gạt là những tật xấu, hạ thấp phẩm giá của con người và huỷ hoại nền tảng xã hội. Nạn sản xuất, chứa chấp và buôn bán hàng giả, nạn làm giấy tờ giả, bằng cấp giả, nạn lừa gạt nhau trong làm ăn vv… Thời đại chúng ta đang sống chứa đầy những thứ giả, từ vật cho đến người. Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người. Cần phải huy động toàn dân để từ bỏ con người cũ và mặc lấy con người mới và phải bắt đầu từ bây giờ. May ra một trăm năm sau, Đất nước chúng ta mới xây dựng được một xã hội chân thật và văn minh.
Rồi còn phải nói đến học đường, nơi đào tạo những thế hệ mai hậu. Bắt đầu là những nhà giáo dục, ban giám đốc, ban điều hành và hội phụ huynh học sinh. Hãy tập cho các em sống trong sáng, ngay thẳng và trung thực. Đừng biến nhà trường thành những nơi buôn bán: dạy riêng, dạy kèm thì tốt, dạy chung thì lười. Đừng vì chỉ tiêu mà đánh lừa lãnh đạo. Hãy giúp các em sống trung thực, không gian lận, không quay cóp, chép bài. Nhà trường phải thực sự là nơi đào tạo con người, con người của sự thật. Anh chị em trong hội phụ huynh học sinh hãy quan tâm đến việc giáo dục và môi trường học vấn của con em mình.
Ngoài ra, cũng cần nói đến môi trường kinh tế và chính trị, nơi mà con người thường đặt hiệu năng trên luân lý, coi thành tích trọng hơn lương tâm. Trên nguyên tắc, đối với mọi hoạt động của con người, luật luân lý không phải là cái gì từ bên ngoài áp đặt vào, nhưng là những quy định nội tại chung cho mọi người, khắp nơi và thuộc mọi thời đại.
Có những giá trị một khi được tôn trọng, con người mới giữ được phẩm giá và sự chân thật của mình: đó là công bằng, sự chân thật, tình thương và tự do. Đừng nói dối, đừng lươn lẹo, đừng lừa gạt dưới bất cứ hình thức nào. Chức vụ càng cao, thì sự dối trá càng tai hại. Đừng làm gương xấu cho người khác, nhất là đối với trẻ em và những người nhỏ bé. Đừng ép buộc hay đặt người khác trong những hoàn cảnh phải nói dối để tránh một thiệt hại lớn hơn. Vì nói dối vẫn là điều xấu.
Nhìn lại một số sự kiện tai hại cho đất nước trong những năm gần đây, chúng ta thấy những hậu quả khốc liệt của sự gian lận và lừa dối: như vụ xây cất các cơ sở phục vụ Sea Games lần XXII; vụ gian lận trốn thuế của một số công ty thương mại, và những vụ lừa gạt tham nhũng trong những cơ quan công quyền.vv…
Theo kinh nghiệm của những người cao tuổi, thì thế hệ của chúng ta hôm nay kém thành thật hơn những thế hệ trước. Đây là một trong những nguy cơ cần báo động! Điều đáng buồn là vì chén cơm manh áo, có khi về danh vọng, chức quyền, một số người đã đánh mất một phần sự thật của mình. Họ đã trở thành những con rôbôt, chỉ nói và làm những gì người chế tạo chúng đã quyết định. Ngoài ra, còn phải nói đến những người sống và làm việc như đồng tiền hai mặt: mặt hữu và mặt tả: nay lật mặt này, mai trở mặt kia. Sự thật không có trong họ, vì sự thật chỉ có một mặt mà thôi.
Nói về ma quỷ, Chúa Giêsu đã dạy: “ Ngay từ buổi đầu, nó đã là tên sát nhân, nó không đứng vững trong sự thật bởi vì nó không có sự thật trong mình nó: khi nó nói dối thì nó theo bản tính riêng của nó mà nói ra, vì nó chính là sự gian dối và là cha sự gian dối” (Ga 8,44).
Thế giới hôm nay cần sự thật. Hãy trả lại cho sự thật địa vị rạng ngời của nó – Splendor Veritatis.

Trích thư mục vụ số 124

Đức Cha Nicola Huỳnh Văn Nghi
Giáo phận Phan Thiết

Thứ Tư, 25 tháng 3, 2009

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2009

Thông báo về Nghi thức cử hành hôn nhân

Ủy ban Phụng tự: Thông báo về Nghi thức cử hành hôn nhân
(Cập nhật: 01/03/2009 15:32:45)

Như tin đã đưa ngày 1-12-2008, Ủy ban Phụng tự đã công bố bản dịch Việt ngữ sách NGHI THỨC CỬ HÀNH HÔN NHÂN, dịch từ ấn bản mẫu II được Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích công bố ngày 19-3-1990.

Theo Thông cáo của Hội đồng Giám mục Việt Nam do Đức cha Chủ tịch Phêrô Nguyễn Văn Nhơn ký ngày 24-3-2008, bản dịch Nghi thức cử hành hôn nhân này: “phải được coi là bản văn “mẫu” (typica) và bản văn Việt ngữ thống nhất để sử dụng khi cử hành hôn nhân Công giáo theo nghi thức của Giáo hội”.
Tiếp theo Thông cáo nói trên, ngày 27-02-2009, Đức cha Phêrô Trần Đình Tứ, chủ tịch Ủy ban Phụng tự, đã ra “Thông báo về Nghi thức cử hành hôn nhân”, nhằm nhắc nhở một vài điểm thực hành khi thời điểm bắt buộc sử dụng Nghi thức này gần đến (12-04-2009).
Thông báo của Ủy ban Phụng tự toàn quốc về Nghi thức cử hành Hôn nhân

Chúa Là Nguồn Vui Của Con (Thanh Kiều)

Lời của một bài hát: “Lạy Chúa, trong cuộc sống con đã gặp biết bao buồn vui…, làm con lo âu cho những ước mơ khi nhìn về tương lai. Con như người lữ hành lang thang tìm một hướng đi. Con như con chiên lạc băn khoăn đi tìm nơi tựa nương. Xin Chúa là ánh sao đêm soi dẫn con đi trên đường. Xin Chúa là nguồn sống con trào dâng một đời bình yên”.
Trong cuộc sống, ai cũng mong muốn cho mình được bình an, hạnh phúc và tràn đầy niềm vui. Mỗi người tìm cách đem lại cho mình càng nhiều niềm vui càng tốt. Thế nhưng niềm vui đó ở đâu? Làm sao để giữ mãi niềm vui ấy, và làm thế nào để lan tỏa niềm vui ấy cho anh chị em?... Thao thức, trăn trở để tìm lời giải thích cho những vấn nạn đó, và câu trả lời mà tôi đã tìm ra : “Chúa là nguồn vui của con”, và tôi dùng nó làm đề tài suy niệm cho sứ vụ linh mục của mình.
1. Chúa là nguồn vui của con : Khi con bình an
- Niềm vui trong cuộc đời: quý giá, mau qua, đôi lúc giả tạo.
Sống trong cuộc đời ai mà không muốn được an vui. Nhưng niềm vui trong cuộc đời này có nhiều thứ hạng: có những niềm vui nhỏ bé khi chu toàn công việc bổn phận hằng ngày; có những niềm vui lớn hơn khi thành công, hay khi thực hiện được một ước mơ nào đó; có những niềm vui kèm theo vinh dự, nhưng cũng có những niềm vui sau đó để lại trong lòng người một sự xót xa, hối hận và thương đau. Chúng ta không thể không quan tâm đến những niềm vui trong cuộc đời này. Nhưng dù niềm vui ấy thanh cao, tốt đẹp đến mấy đi nữa, nó cũng mau qua và chỉ để lại trong ta những kỷ niệm. Nói cách khác : niềm vui nhường chỗ cho niềm vui, và cuộc đời con người được đan dệt bằng những niềm vui như thế. Niềm vui thôi thúc con người không ngừng tìm kiếm, dù biết rằng nó mau qua, chóng tàn. Con người nhiều lúc cũng khắc khoải và trongự hỏi : Tại sao niềm vui cuộc đời này mau qua như thế? Có niềm vui vĩnh cửu chăng?
- Chính Chúa đem lại cho tôi niềm vui đích thực.
Niềm vui đích thực là niềm vui để lại trong tâm hồn con người sự mãn nguyện và không đem lại sự hối hận, dằn vặt, bất an. Niềm vui ấy là phản ánh Niềm Vui Vĩnh Cửu. Nói cách khác, niềm vui ấy là hình bóng, là phản ánh chính Chúa vì Ngài là nguồn vui. Mọi niềm vui đều đến từ chính Thiên Chúa, nên những niềm vui ấy dù nhỏ bé, mau qua, nó cũng đem lại bình an, hạnh phúc cho con người vì nó được chia sẻ Niềm Vui Tuyệt Đối là chính Chúa. Thế nên, qua việc tìm kiếm những niềm vui chân chính trong cuộc sống, con người cần phải tìm đến chính Chúa, bởi “Chúa là nguồn vui” như lời Thánh vịnh 37,4 :
“Hãy lấy Chúa làm niềm vui của bạn,
Người sẽ cho được phỉ chí toại lòng”.

- Niềm vui được sống trong tình thương của Chúa.
“Chúa là nguồn vui của con”. Xác tín ấy cũng chính là cảm nghiệm được sống trong tình thương của Chúa. Càng cảm nhận sâu xa tình yêu Chúa dành cho mình, tôi càng cảm nhận được niềm vui đầy tràn. Và niềm vui ấy sẽ tồn tại mãi bởi lúc nào Chúa cũng yêu thương tôi. Xác tín ấy là nguồn lực giúp tôi biết hành xử thế nào cho xứng đáng mỗi khi gặp thất bại, buồn chán trong sứ vụ linh mục mai ngày.
2. Chúa là nguồn vui của con : Khi con buồn phiền, thất bại.
- Buồn phiền, thất bại phải chăng là “họa”
Người ta xưa nay vẫn coi những may lành, thành đạt là “Phúc”; còn những rủi ro, thất bại là “Họa”. Thế nên khi gặp sự lành họ cho là được Chúa ban ơn; còn khi gặp sự dữ thì họ cho là bị Chúa phạt. Quan niệm đó phải chăng cần sửa đổi? Ông Gióp gặp sự dữ và bạn bè xem ông là bị Chúa phạt. Gióp phân trần với Chúa và ông chất vấn với Ngài : “Tại sao tôi sống theo lề luật và thánh ý Chúa lại gặp phải sự dữ như vậy”? Từ cuộc đời của ông Gióp, tôi nhận ra rằng : cái mà người ta quan niệm phúc hay họa đều mang tính tương đối. Tương đối bởi vì : “Niềm vui của người này có thể là nỗi khổ của người kia; cũng như phúc của người này có khi lại là họa của người khác” và ngược lại. Một cách nhìn khác có lẽ đúng hơn : phúc và họa là phương tiện để đem lại cho con người ơn cứu độ nếu con người biết đón nhận nó trong đức tin.
- Chúa yêu thương, dẫn dắt để mỗi người đạt được ơn cứu độ.
Thật vậy, Chúa dẫn dắt mỗi người mỗi cách khác nhau và Ngài mong muốn con người đạt được ơn cứu độ. Có khi Ngài dùng cái gọi là “phúc” để dẫn chúng ta đi. Có khi Ngài dùng cái gọi là “họa” để giúp chúng ta thăng tiến. Thế nên, phúc hay họa đều cần để đưa chúng ta đến nguồn ơn cứu độ. Nói cách khác, nếu chúng ta nhận ra được “may” “rủi” đều là ơn của Chúa, chúng ta sẽ dễ dàng đón nhận thánh ý của Ngài. Đó chính là tiền đề đem lại cho chúng ta niềm vui.
3. Chúa là nguồn vui của con : Trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời.
Từ những suy nghĩ trên tôi cần :
- Khám phá Chúa hiện diện với tôi khi an vui cũng như khi buồn phiền, khi thành công cũng như khi thất bại, phúc cũng như họa. Tất cả là hồng ân cứu độ. Khám phá ra chương trình thánh ý Thiên Chúa là điều hết sức cần thiết. Có khi Chúa dẫn ta đi trên con đường rộng, đầy hoa thơm cỏ lạ; có khi Ngài muốn ta đi trên con đường hẹp, đầy chông gai, thử thách. Dù đường đi “rộng” hay “hẹp”, chúng ta cần xác tín rằng Chúa thương tôi, Chúa muốn đem lại cho tôi niềm vui tràn đầy. Xác tín ấy giúp tôi không tự cao, tự mãn khi thành công trong mục vụ, trong đời sống tâm linh… Xác tín ấy giúp tôi không chán nản, thất vọng khi gặp khổ đau, thử thách hay thất bại trong đời sống tâm linh cũng như mục vụ.
- Khám phá Chúa là nguồn vui mời gọi tôi sống gắn bó với Ngài. Càng gần Chúa, niềm vui của tôi càng được lớn hơn. Niềm vui ấy lớn nhất khi tôi nói được như Thánh Phaolô: “Tôi sống nhưng không còn là tôi sống, mà là Chúa Kitô sống trong tôi”. Thế nên, tôi phải sống và làm chứng cho niềm tin của mình vào Chúa. Niềm tin ấy được thể hiện qua niềm vui bên ngoài của đời tôi. Niềm tin ấy gắn liền với trạng thái bình an nội tâm mà tôi có được nhờ sự gặp gỡ và sống thân tình với Chúa.
- Đời linh mục là cuộc đời an vui : Dấu chỉ ơn gọi, và điểm tựa tinh thần cho các tín hữu.
Một phản chứng rõ ràng mà tôi cần phải tránh trong đời linh mục của mình đó là tính nóng nảy, cáu gắt, quyền hành… tất cả những biểu hiện đó nói lên rằng : linh mục ấy không có niềm vui nội tâm. Nói đúng hơn là linh mục ấy để Chúa sống bên ngoài cuộc đời của mình. Bởi thế, bình an nội tâm thể hiện qua niềm vui tươi nở trên môi là dấu chỉ rõ ràng linh mục sống đúng ơn gọi của mình. Đó cũng chính là điểm tựa nâng đỡ đời sống đức tin của các tín hữu rất nhiều.
- Tin tưởng, phó thác : trong công việc mục vụ, không phải lúc nào mọi chuyện đều suông sẻ. Đó không đơn thuần là quy luật tự nhiên, song là cơ hội để linh mục sống khiêm tốn và tạ ơn khi thành công, nhẫn nại và tín thác khi thất bại. Nói tóm lại : trong đời sống mục vụ tất cả đều là hồng ân, nhưng cũng cần kiểm điểm lại chính mình để thấy rõ hơn sự giới hạn của mình, đồng thời để khám phá sâu hơn Thánh Ý nhiệm mầu của Thiên Chúa.
Thay lời kết
Rất nhiều hôm, tôi ngồi đọc lại những trang nhật ký của đời mình, có nhiều trang tôi muốn xé đi, bao ước mơ và lời cầu của tôi không được nhậm lời. Nhiều biến cố vui buồn trải dọc cuộc đời không đủ làm đời tôi thêm vui, và tôi thầm nghĩ : tình Chúa thật xa vời. Có lúc tôi cảm thấy xa hẳn tình người dù họ đang sống bên tôi.
Nhưng, có một hôm ngồi đọc lại lịch sử đời mình đã qua, tôi mới rướm lệ và nhận ra : Chúa luôn ở với tôi, Chúa là nguồn vui của tôi. Từng sợi chỉ xanh, đỏ, tím, hồng trong cuộc sống tưởng chừng như vô nghĩa, nhưng không ngờ giờ thành bức thảm tuyệt vời, điều tôi tưởng như là thất bại lại chính là một thành công. Một bàn tay vô hình đã dẫn dắt tôi qua muôn quãng đường đời với bao biến cố vui, buồn… biến cố nào cũng giúp ích cho tôi. Giờ tôi mới hiểu: chính Chúa đã ban ơn qua điều Ngài từ chối, và tôi thầm cám ơn Chúa thật nhiều.
Vâng, Chúa là thế đó!
17.07.2007
Giuse Nguyễn Thanh Kiều

Hành Trình Ơn Gọi (Thanh Kiều)

“Chúa dựng nên con chẳng cần đến con,
nhưng cứu độ con Ngài cần con đáp lời…”
(Thánh Augustino).
Ơn gọi là một mầu nhiệm của tình thương Thiên Chúa dành cho mỗi người. Đã gọi là mầu nhiệm thì không ai định nghĩa được, mà người ta chỉ có thể diễn tả ơn gọi dưới một khía cạnh nào đó. Chẳng hạn như đó là một cuộc hành trình của một người khao khát kiếm tìm Chúa; hoặc là một cuộc gặp gỡ cá nhân từ trong sâu thẳm của một người với Thiên Chúa…, và chính đương sự khi nhận ra mình có ơn kêu gọi, thì họ đã được Thiên Chúa chọn gọi từ lâu rồi. Riêng tôi suy nghĩ về ơn gọi, tôi nhận ra ơn gọi của mình có một điều gì đó luôn mới mẻ. Chính vì thế qua mỗi giai đoạn, sau từng kỳ nghỉ…, tôi đều được mời gọi phải định hướng, xác định và làm mới lại ơn gọi của mình.
Tôi được sinh ra và lớn lên trong một gia đình “đạo theo”. Ba tôi khi còn niên thiếu, đang lúc đi chăn nuôi ngoài đồng thì bị giặc bắt. Qua một thời gian bị tạm giam, ba tôi được trả tự do nhưng mất liên lạc với gia đình. Kể từ đây, ba tôi bắt đầu một kiếp sống lang thang, phiêu bạt trên khắp các đướng phố Hà Nội nhưng cũng rất may là : tình cờ, ba tôi gặp được một Dì phước, nhận ba tôi làm con nuôi về sống trong một cô nhi viện…, rồi ba tôi được học đạo và theo đạo. Sau biến cố này, ba tôi dần dần liên lạc được với gia đình, nhưng khi nghe biết ba tôi theo đạo Công Giáo, gia đình đã khước từ luôn…
Ba tôi tiếp tục theo Dì phước, được Dì lo việc hôn nhân gia đình, rồi di cư vào Nam (1954). Cuộc sống vẫn tiếp diễn và tôi được sinh ra…
Ngay khi còn nhỏ, thấy anh em tôi siêng năng đi lễ nhà thờ, nên chúng bạn thường gọi đùa anh tôi là đức cha, gọi tôi là cha. Nghe thì biết vậy, nhưng thực sự cũng chẳng hiểu và cũng không có phản ứng gì. Rồi lớn lên, anh tôi xin đi tu, nhưng không thành vì hoàn cảnh đổi thay của đất nước (1975).
Riêng tôi lúc đang học cấp cơ sở, gia đình muốn cho tôi đi tu, nên má tôi dẫn tôi đến trình cha sở, nhưng vì chưa có ý hướng đi tu nên khi được cha sở hỏi : con có muốn đi tu không? Tôi lặng thinh không nói gì. Cha sở liền nói với má tôi: “Bà cứ đưa nó về, khi nào nó muốn đi tu thì để tự nó đến gặp tôi”. Sau khoảng hai năm khi tôi đang học trung học, ý hướng đi tu chợt đến, tôi đã tự ý đến gặp cha sở trình bày ước nguyện và được ngài chấp thuận.
Tôi đi tu cũng với một lý do rất bình thường như bao bạn bè cùng trang lứa, đó là thích được giúp lễ (Ở xứ tôi chỉ những em nào có ý hướng đi tu mới được nhận vào giúp lễ), và ước nguyện của tôi đã thành hiện thực : tôi giúp lễ cho cha sở và được ngài hướng dẫn ơn gọi suốt bốn năm, bị gián đoạn bởi ba năm thi hành nghĩa vụ quân sự. Xuất ngũ trở về mọi sự phải khởi đầu lại, tôi đâm ra chán nản, không còn muốn tiếp tục ơn gọi nữa! (có thể nói đây là thời gian Chúa thử thách ơn gọi của tôi).
Nghe lời một người bạn đang dự tu Dòng Gioan Bosco đề nghị chuyển hướng, tôi cũng nghe theo và mọi việc xem ra suông sẻ, thuận lợi (theo suy nghĩ của tôi), thì một biến cố đã làm thay đổi cả cuộc đời tôi : sau một tuần ở nhà Dòng, tham gia các sinh hoạt của nhà Dòng, Cha Bề Trên đã đồng ý cho tôi tiếp tục tìm hiểu ơn gọi trong Dòng…, ngài cho tôi về nhà ba ngày để thu xếp mọi thứ cần thiết, rồi trở lại nhà Dòng; hai ngày trôi qua bình thường cho đến chiều ngày thứ hai, tôi nhận được thư mời của văn phòng Tòa Giám Mục Xuân Lộc gọi về, và được cha phụ trách chủng sinh sắp xếp cho tôi được tiếp tục ơn gọi tu triều tại Giáo phận, vì trước đây tôi đã ghi danh tìm hiểu ơn gọi tại Xuân Lộc. Kể từ đây, tôi được hướng dẫn, học hỏi và theo đuổi ơn gọi cho đến ngày hôm nay. Ngày 08.08.2007, tôi được thụ phong linh mục. Tôi đã trở nên linh mục của Chúa và của mọi người.
Một thoáng nhìn lại hành trình ơn gọi của mình, tôi thấy đường lối của Chúa thật là nhiệm mầu, chương trình của Chúa thật hay; đôi khi xem ra nó đi ngược lại với đường lối, chương trình của riêng mình. Và giờ đây, tôi chỉ biết một điều : Chúa đã dựng nên tôi cho Chúa và Chúa đã cho tôi vào đời với một mục đích riêng, với tất cả ơn của Ngài đủ cho tôi. Phần tôi, đã chọn theo Chúa, tôi phải dứt khoát từ bỏ tất cả, từ bỏ chính mình, để thánh ý Chúa mỗi ngày được thành toàn nơi tôi.
Hôm nay, con được đến đây để cùng với Cộng đoàn dâng Thánh lễ tạ ơn Thiên Chúa. Con nguyện suốt đời con sẽ mãi mãi là bài ca tạ ơn Chúa, vì con hiểu rằng : nếu con biết cám ơn những gì con đang có, con sẽ biết cám ơn những gì người khác làm cho con, và con sẽ biết tạ ơn Chúa về tất cả những gì Chúa đã làm cho con và đã thương con như thế.
Kính xin cộng đoàn thêm lời cầu nguyện cho con và cho các linh mục được trung thành với Chúa và trọn đời nhiệt thành với sứ vụ.

Tháng 8.2007
Giuse Nguyễn Thanh Kiều

Bộ sưu tập hình hang đá máng cỏ

Liên kết các Blog

  • - CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN – B KÍNH TRỌNG THỂ ĐỨC MẸ MÂN CÔI Is 61,9-11; Gl 4,4-7; Lc 1,26-38 CHỦ ĐỀ: MARIA, NGƯỜI NỮ ĐỨC TIN SỨ ĐIỆP: Siêng năng lần hạt; ca...

Album CHẶNG ĐÀNG THÁNH GIÁ

Album SAO CON KHÔNG CÓ LỜI RU

Lượt xem:

Web Page Traffic Counter

Powered By Blogger