Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Hương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn Hương. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2010

Bài giảng Chúa Nhậ 4 Thường Niên C (Văn Hương)

Chủ đề : Nguyên nhân khước từ Thiên Chúa.

Luca : 4,21-30.

--------------------------------------------------------------------------------------------

Cộng đoàn phụng vụ thân mến,

Chúng ta vừa nghe thánh Luca thuật lại thái độ của dân Nazareth đối với Chúa Giêsu. Và qua đó, giải thích tại sao họ không tin Ngài, đồng thời mời gọi chúng ta thể hiện sự vâng phục đón nhận mặc khải của Thiên Chúa trong khiêm tốn và quảng đại.

Có thể nói, những thành công Chúa Giêsu đạt được trong những ngày đầu rao giảng ở Capharnaum mang một ý nghĩa quan trọng khi trở về Nazareth, và dĩ nhiên, những người đồng hương cũng cảm thấy hãnh diện về Ngài, nhưng là với thiên hạ, còn Chúa Giêsu, trong mắt họ chỉ là một kẻ bình thường : “Người này không phải là con ông Giuse sao ?” (Lc 4,22b). Do đó, dân Nazareth tuy thán phục về những lời từ miệng Chúa Giêsu thốt ra (x.Lc 4,22), nhưng không chấp nhận Ngài làm thầy dạy chân lý hay Lời Chúa, vì họ cho rằng đã biết rõ Chúa Giêsu. Điều này cho thấy xu hướng chung của con người thường ganh tỵ, không muốn ai hơn mình. Đây là biểu hiện phản ánh sự kiêu ngạo mà “Đức Chúa, người phàm đều chê ghét”(Hc 10,7a). Và, Kinh Thánh cho chúng ta thấy rất nhiều những hậu quả của nó… nhưng trầm trọng hơn hết là kẻ kiêu ngạo gạt bỏ mọi lệ thuộc, tự cho mình ngang hàng với Thiên Chúa - Tổ tông loài người sa ngã vì muốn nên như lời con rắn : “Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác”(St 3,5) - Chính vì thế, sách Châm ngôn nói : “kẻ nhạo báng không thích bị khiển trách, cũng chẳng chịu đến với người khôn”(Cn 5,12), cho nên không thể tìm thấy nơi nó sự khiêm hạ như lời sách Huấn ca : “Đối với kẻ kiêu ngạo thì thấp hèn là điều ghê tởm”(Hc 13,20a). Do đó, không có gì ngạc nhiên khi “Phường kiêu ngạo nặng lời chế giễu”(Tv 119,51) những người được Thiên Chúa sai đến giáo huấn, cũng như lời hứa của Người mà thánh Phêrô nói đến trong thư thứ hai của ngài như sau : “Trong những ngày sau hết, sẽ xuất hiện những kẻ nhạo báng chê cười, sống theo những đam mê riêng của họ. Họ nói : đâu rồi lời Người hứa sẽ quang lâm ? Vì từ ngày các bậc cha ông an nghỉ, mọi sự vẫn y nguyên như khi trời đất mới được tạo thành”(2Pr 3,3-4). Bởi vậy, không có gì lạ khi Thánh Kinh cho biết kẻ kiêu ngạo phạm tội một cách sống sượng (x.Ds 15,30tt), và bằng chứng cụ thể được tìm thấy trong Tin mừng hôm nay : Khi Chúa Giêsu trưng dẫn những tích sự trong Cựu ước để nói cho dân Nazareth biết : mọi người đều được hưởng ơn lộc của Thiên Chúa, chứ không dành riêng cho Israel như suy nghĩ ích kỷ hạn hẹp của họ, thì họ nổi giận, lôi Chúa Giêsu ra khỏi thành, kéo Ngài lên một đỉnh núi, để xô Ngài xuống vực (x.Lc 4,28-30), chẳng khác gì lời Thánh vịnh 73 câu 6 đến câu 9 : “chúng lấy vẻ kiêu căng làm vòng đeo cổ, lấy thói bạo tàn làm áo che thân. Xác đầy mỡ tiết ra toàn gian ác, và tâm địa chan chứa những mưu mô. Chúng chế diễu, buông lời thâm độc, lại kiêu căng bàn chuyện ức hiếp người ; miệng chẳng từ xúc phạm trời cao, lưỡi tự do tung hoàng cõi dất”. Vì thế, Thiên Chúa ngăn đe và chế nhạo bọn người kiêu ngạo (x. Tv 119,21 ; Cn 3,34), và Chúa Giêsu khi khiển trách Pharisiêu cao ngạo, tham lam đã không ngần ngại khẳng định Thiên Chúa ghê tởm hạng người này (x. Lc 16,14-15), nên chúng sẽ bị trừng phạt như lời sấm của Isaia : “Người phàm tự kiêu sẽ cúi mặt nhìn xuống, con người ngạo nghễ rồi sẽ bị khuất phục… Vì Đức Chúa các đạo binh đã dành sẵn một ngày để trị tất cả những gì kiêu căng ngạo nghễ, trị tất cả những gì tự cao tự đại : chúng sẽ bị hạ xuống”(Is 2,11-12).

Cộng đoàn phụng vụ thân mến,

Dân Nazareth năm xưa khước từ, không tin nhận Chúa Giêsu vì họ tự phụ kiêu ngạo. Còn chúng ta hôm nay thì sao ? Chắc chắn chúng ta không dám đặt mình ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng không thể nói chúng ta khiêm tốn, tự hạ như Gioan tẩy giả : “Đức Kitô phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi” (x.Ga 3,30), nếu nơi chúng ta vẫn còn thể hiện những hình thức của sự kiêu ngạo như : theo sự giả hình của Pharisiêu cho mình là công chính và kinh khi tha nhân. Làm mọi sự cốt để người khác trông thấy, nhưng con tim, tâm hồn thì thối nát (x.Mt 23,5.25-28) hoặc như lời thánh Giacôbê khiển trách những người vênh váo phô bày sự xa hoa : “các ngươi lại tự phụ vì những chuyện khoác lác của mình” (Gc 4,16) và theo thánh Gioan thì đó là “Mọi sự trong thế gian : như dục vọng của xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của” (1Ga 2,16). Do đó, thánh Phêrô nói không thể lãnh nhận ân sủng “vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường”(1Pr 5,5).

Xin cho lời Kinh thánh sau đây giúp mỗi người chúng ta không nên như người Nazareth thời Chúa Giêsu, nhưng biết đón nhận ân ban của Thiên Chúa, đồng thời quảng đại sống theo giáo huấn của Tin mừng : “Chẳng ai có thể nhận được gì mà không do trời ban”(Ga 3,28). Amen.

Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2010

Bài giảng Chúa Nhậ 3 Thường niên (Văn Hương)

Chủ đề : Đức Kitô – Đấng được Thánh Thần xức dầu.

Luca : 1,1-4 ; 4,14-21.

------------------------------------------------------------------------------------------------

Cộng đoàn phụng vụ thân mến,

Nội dung chính của Trích đoạn Tin mừng chúng ta vừa nghe là những lời Chúa Giêsu nói về sứ mệnh của Ngài tại Hội đường ở Nazareth. Qua đó cho thấy, Chúa Giêsu là Massia mà các tiên tri loan báo và Israel đang mong đợi. Ngài là Đấng được Thánh Thần xức dầu để “rao giảng Tin mừng cho người nghèo khó, thuyên chữa những tâm hồn thống hối, loan truyền sự giải thoát cho kẻ bị giam cầm, cho người mù được thấy, trả tự do cho những kẻ bị áp bức, công bố năm hồng ân và khen thưởng”(Lc 4,18-19).

Theo tiếng Do thái và Aram thì chữ Massia hay chữ Kitô chuyển dịch từ Hy ngữ, đều có nghĩa “được xức dầu”. Cựu ước sử dụng chỉ những người được thánh hiến để thi hành chức vụ đại diện Giavê nơi dân Israel. Sách Samuel quyển thứ nhất và thứ hai ghi lại sự kiện Saul và Đavit được xức dầu tấn phong làm người lãnh đạo cơ nghiệp của Đức Chúa (x.1 Sm 9,26-10,1-8 ; x. 1 Sm 16,1-13 ; 2 Sm 2,1-4 ; 2 Sm 5,1-5). Việc này cũng được thực hiện với Salomon cũng như những người thuộc dòng dõi ông lên nắm quyền hành (x. 1 V 1,39 ; 2 V 11,12 ; 23,30). Và sách Thánh vịnh thì cho rằng Đấng Massia đế vương là nghĩa tử của Thiên Chúa : “Người phán bảo tôi rằng : Con là con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra con”(Tv 2,7 ; x. 2 Sm 7,14) cho nên “Chúa hằng ưu ái Đấng Người đã xức dầu tấn phong”(Tv 18,51), đồng thời bảo vệ và ban cho “một dòng dõi hùng cường” (x. Tv 132,17). Tuy nhiên, Kinh Thánh không dùng chữ Massia hay “được xức dầu” để chỉ riêng các bậc đế vương. Sách Các Vua quyển thứ nhất nói đến việc Thiên Chúa truyền cho ông Êlia xức dầu cho Êlisê làm tiên tri thay mình (x.1V 19,16), và cũng sách này, trong quyển thứ hai, cho thấy nghĩa rộng hiểu theo ẩn dụ của chữ Massia, qua sự kiện Êlia di chúc lại cho Êlisê hai phần thần khí (x. 2V 2,9). Vấn đề này được Isaia làm sáng tỏ, khi ông nhắc lại sứ mạng đã nhận được từ Thiên Chúa, ông nói : “Thần khí của Đức Chúa là Chúa thượng ngự trên tôi, vì Đức Chúa đã xức dầu tấn phong tôi”(Is 60,1). Như thế, Thần khí được ban ai cho qua việc xức dầu là để họ thi hành một sứ mệnh nào đó theo ý Thiên Chúa. Cyrô được Thiên Chúa sai đến giải phóng Israel khỏi tay Babylon được gọi là Đấng được xức dầu của Giavê (x. Is 45,1), cũng vậy, các Tư tế được xức dầu để thực hiện công việc thiêng thánh trong đền thờ. Đây là lệnh của Thiên Chúa, được ghi trong sách Xuất hành ở phần chỉ thị về việc dựng nơi thánh và về các tư tế (x. Xh 25,1-31,1-18), mà Thánh vịnh diễn tả như sau : “như dầu quý đổ trên đầu, xuống râu xuống cổ áo chầu Aharon”(Tv 132,2). Tóm lại, từ những ý nghĩa của chữ Massia, chúng ta có thể kết luận : Sau khi Chúa Giêsu đọc xong trích đoạn lời Chúa trong sách Isaia, Ngài nói với dân chúng : “Hôm nay ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà tai các ngươi vừa nghe”(Lc 4,41), là một mặc khải trọng đại mà thánh Tông đồ Phêrô khi giảng tại nhà ông Cornêliô đã xác quyết : “Đức Giêsu xuất thân từ Nazareth, Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người. Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế, bởi vì Thiên Chúa ở với Người”(Cv 10,38). Như thế, Chúa Giêsu là Vua, là tiên tri, là tư tế. Và những tước hiệu này được làm sáng tỏ dưới ánh sáng Phục sinh : Chúng ta thấy Chúa Giêsu xuất hiện như con vua Đavit (x. Mt 1,1 ; Lc 1,27 ; Rm 1,3 ; Cv 2,29t ; 13,23), được nhận lãnh ngôi báu của tổ phụ (Lc 1,35), và khi chu toàn sứ mệnh người tôi trung đau khổ của Giavê như một tiên tri bị bách hại, Ngài đã hoàn tất vương quyền Israel bằng việc thiết lập vương quốc Thiên Chúa trên trần gian. Qua cuộc khổ nạn thập giá, Chúa Giêsu được Thiên Chúa tôn xưng : “Muôn thuở, Con là Thượng tế theo phẩm trật Melkiseđek”(Dt 5,10), vì như lời kinh thánh chép : “Đức Giêsu không như các vị thượng tế khác : mỗi ngày họ phải dâng lễ tế hy sinh, trước là để đền tội của mình, sau là để đền thay cho dân ; phần Người, Người đã dâng chính mình và chỉ dâng một lần là đủ”(Dt 7,27). Và khi từ cõi chết sống lại, Chúa Giêsu được cất nhắc lên ngôi báu với vinh quang của vị hoàng đế vượt trên mọi thứ vinh quang nhân loại. Bởi đó, thánh Phaolô nói : “Khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng : Đức Giêsu Kitô là Chúa”(Pl 2,10-11).

Cộng đoàn phụng vụ thân mến,

Qua Bí tích Rửa tội, chúng ta được gọi là Kitô hữu, tức là người được xức dầu thánh hiến cho Thiên Chúa để làm công việc của Ngài như Chúa Giêsu Kitô. Như thế, chúng ta là những người được sai đi rao giảng Tin mừng cho muôn dân, được mời gọi sống như lời Chúa Giêsu phán : “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28), đồng thời biến đời mình nên của lễ dâng cho Thiên Chúa và thái độ tham dự thánh lễ của chúng ta sẽ cho thấy giá trị của lễ chúng ta dâng.

Xin Chúa giúp chúng ta sống xứng đáng với danh Kitô Hữu. Amen.

Thứ Bảy, 2 tháng 1, 2010

Bài giảng Chúa nhật Lễ Hiển Linh (Văn Hương)

Chủ đề : Đức Kitô : cùng đích của con người.

Matthêu : 2,1-12.

--------------------------------------------------------------------------------------------

Cộng đoàn phụng vụ thân mến,

Nhờ ánh sáng của ngôi sao xuất hiện ở Phương Đông, các đạo sĩ đã lên đường tìm kiếm Chúa Giêsu Hài Đồng, và họ được phúc gặp Người, chính là nội dung của trích đoạn Tin mừng chúng ta vừa nghe. Và qua đó cho thấy tất cả mọi dân tộc dù ở bất cứ đâu cũng sẽ được dẫn đến với Đấng chiếu tỏa vinh quang Thiên Chúa.

Trong thông điệp Giáng sinh Urbi et Orbi, Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI nói : “Thánh Kinh và Phụng Vụ không đề cập đến ánh sáng tự nhiên, nhưng là một thứ ánh sáng khác cách nào đó đã nhắm tới và tập chú trên «chúng ta», chính vì cái «chúng ta» đó mà Hài nhi Giêsu đã sinh ra”. Theo trình thuật Giáng sinh của Thánh Luca, thì ánh sáng mà chúng ta đang nói đến dường như còn xa lạ với con người, chỉ có Đức Maria, Thánh Giuse và một vài mục đồng chiêm ngưỡng, ví như một ngọn lửa thắp lên giữa đêm đen, và được Thánh sử Gioan trình bày ở lời tựa trong Tin mừng của ngài như sau : “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng… Ngôi lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người”(Ga 1,5.9). Từ trong hang đá, ánh sáng đích thực bừng lên đơn sơ và kín nhiệm, “đúng theo cách thức Thiên Chúa hành động trong lịch sử cứu độ. Chúa thường thắp lên những ngọn đèn leo lét, để rồi chiếu tỏa rộng rãi”(TĐGS). Bằng chứng là các Đạo Sĩ Phương Đông đã nhìn thấy và tiếp nhận ánh sáng này, họ trở nên biểu tượng cho tính phổ quát của ơn cứu độ. Như thế, có thể nói, ánh sáng của Chúa Kitô vượt khỏi hang đá Bethlem lan tới mọi nơi, soi sáng trên mặt đất cũng như chốn trời cao, đồng thời đi vào tâm hồn con người, truyền tải thông điệp : “Ai theo tôi, sẽ không phải đi trong bóng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống”(Ga 8,12). Và câu lời Chúa sau đây : “Ngôi sao họ xem thấy ở Đông phương, lại đi trước họ, mãi cho tới nơi và đậu lại trên chỗ hài nhi ở”(Mt 2, 9), cách nào đó cho thấy lời thánh vịnh 85, câu 11-12 thể hiện nơi Đức Kitô : “Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ, hòa bình công lý đã giao duyên. Tín nghĩa mọc lên từ đất thấp, công lý nhìn xuống tự trời cao”. Như thế, Đức Kitô chính là điểm đến, là trọng tâm - cùng đích đời sống hiện tại cũng như mai hậu của chúng ta. Nhờ Người, chúng ta có khả năng đáp lại những đòi hỏi của Thiên Chúa để được ơn làm nghĩa tử, được gọi Thiên Chúa là “Abba, Cha ơi” (x.Gl 4,4-6). Và qua Người, chúng ta được thuộc vào hàng ngũ những kẻ thừa kế theo lời hứa (x. Gl 3,29), lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác (x.Ga 1,16). Chính vì thế, Sách Gương Chúa Giêsu nói : “Không có Chúa Giêsu, đời có làm được gì cho ta ? Sống mà không có Chúa Giêsu là tất cả một hỏa ngục thê thảm. Ở với Chúa Giêsu là một thiên đàng êm thú. Có Chúa Giêsu ở với, không thù nào có thể làm nổi loạn. Được Chúa Giêsu là được kho tàng vô giá, hay đúng hơn, một báu vật thắng vượt mọi báu vật. Mất Chúa Giêsu là mất tất cả, mất nhiều hơn mất trót vũ trụ. Sống mà không có Chúa Giêsu, không còn thứ nghèo nào bằng. Được sống với Chúa Giêsu không phú quý nào sánh kịp”(Sđd tr.110). Ước gì mỗi người chúng ta nên như các đạo sĩ trong bài Tin mừng, biết tiếp nhận ánh sáng Chúa Kitô để trở nên nguồn sáng, là người có Chúa Giêsu. Vì như lời Đức Thánh Cha đương nhiệm : “Thiên Chúa vẫn thắp lên những ngọn lửa giữa đêm tối của thế giới khi kêu gọi những người nam nữ hãy nhận biết nơi Đức Giêsu «dấu chỉ» của sự hiện diện cứu độ và giải thoát” (TĐGS), để gia nhập vào đoàn người mà tiên tri Isaia đã loan báo : “Chư dân sẽ lần bước tìm về sự sáng” (Is 60,3a).

Cộng đoàn phụng vụ thân mến,

Mừng lễ Chúa Hiển Linh hôm nay, chúng ta xác tín lại một lần nữa, chúng ta là con cái sự sáng vì thuộc về Chúa Kitô. Bởi đó, chúng ta phải bước đi trong ánh sáng để được hiệp thông với Thiên Chúa Đấng là ánh sáng (1Ga 1,5tt). Và mối tương quan này được biểu lộ qua những hoa trái của ánh sáng, đó là những việc tốt lành, công chính và chân thật mà chúng ta sống cũng như làm cho tha nhân.

Xin Chúa Giúp mỗi người chúng ta, những người tiếp nhận ánh sáng chân lý và tình yêu của Chúa Kitô biết sống theo thánh ý Thiên Chúa như các đạo sĩ năm xưa, khi được báo mộng, họ đã không trở lại với Hêrôđê bạo chúa, nhưng đã qua lối khác mà về quê hương xứ sở. Tức là từ bỏ, không cộng tác với những gì chống lại sự thật, hủy diệt tình yêu. Được như thế, chúng ta sẽ trở nên chứng nhân của sự ánh sáng, và qua đó, người khác sẽ nhận biết Chúa Giêsu chính là cùng đích của hành trình dương thế nơi con người. Amen.

Thứ Sáu, 18 tháng 12, 2009

Bài giảng: Chúa nhật IV Mùa vọng (Văn Hương)

Chủ đề : Đời sống đức tin của hậu duệ Abraham.
Luca : 1,39-45.
----------------------------------------------------------------------------------------
Cộng đoàn phụng vụ thân mến,
Là người công giáo, chắc chắn, chúng ta không chỉ được nghe hoặc đọc qua một lần trích đoạn Tin mừng vừa công bố, nhưng còn suy đi nghĩ lại mỗi khi lần chuỗi mân côi : “Thứ hai thì ngắm : Đức Bà đi viếng bà thánh Isave. Ta hãy xin cho được lòng yêu người”. Và đây chính là sứ điệp mà Giáo hội mời gọi chúng ta sống một cách cụ thể để nói lên niềm tin của mình, từ hôm nay cho đến ngày đại lễ giáng sinh, đồng thời tiếp tục tới khi Chúa Giêsu trở lại thiết lập trời mới đất mới như Ngài đã hứa.
Có thể nói, chỉ với bản văn ngắn gọn, từ câu 39 đến câu 45. Thánh sử Luca đã làm nổi bật nguyên do tại sao Đức Maria được Thiên Chúa chúc phúc. Và qua lời ngợi khen được thúc đẩy bởi Thánh Thần của bà Isave, chúng ta thấy : Đức Maria được chúc phúc vì đã tin lời Chúa phán với mình sẽ được thực hiện (x.Lc 1,45). Điều này nhắc chúng ta nhớ đến Abraham, vị tổ phụ khả kính, vì tin nên được Thiên Chúa chúc phúc và hứa cho ông một dòng tộc đông như sao trên trời, như cát ngoài biển cả (x.St 15,1-6). Đó là dòng dõi của những kẻ tin mà Đức Maria – miêu duệ của Abraham – là một gương mẫu tuyệt vời về niềm tin vào Thiên Chúa. Cuộc sống của Mẹ, giúp chúng ta có thể cảm nếm được những thực tại mà con người, nếu chấp nhận dấn thân như Mẹ, thì hoàn toàn có khả năng đạt tới như lời Kinh Thánh chép : “Tin là đảm bảo cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy”(Dt 11,1). Và với việc cưu mang Đấng Cứu Thế, Đức Maria được gọi là Evà mới (x.ĐNTHTK, tr.16), vì đã cộng tác vào công cuộc sinh hạ một dân tộc mới trong Đức Giêsu Kitô, bao gồm những người tin vào Con Một Thiên Chúa và chịu phép rửa “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Như vậy, chúng ta thuộc về dân mới này. Bởi thế, xét về gia phả, Thánh Kinh cho chúng ta biết : “Nếu anh em thuộc về Đức Kitô, thì anh em là dòng dõi ông Abraham, những người thừa kế theo lời hứa” (Gl 3,29). Và thánh Phaolô nói về lòng tin của Abraham và lòng tin của chúng ta trong thư Rôma như sau : “Vì ông (Abraham) hoàn toàn xác tín rằng : điều gì Thiên Chúa đã hứa thì Người cũng có đủ quyền năng thực hiện. Bởi thế ông được kể là người công chính. Nhưng khi viết ông được kể là người công chính, thì không phải chỉ nói về ông, mà còn nói về chúng ta nữa : chúng ta sẽ được kể là công chính, vì tin vào Đấng đã làm cho Đức Giêsu, Chúa chúng ta sống lại từ cõi chết ; Đức Giêsu chính là Đấng đã bị trao nộp vì tội lỗi chúng ta và được Thiên Chúa cho sống lại để chúng ta được nên công chính”(Rm 4,21-25). Như thế, đức tin dẫn đưa chúng ta đến ơn cứu độ như “các tiền nhân đã được Thiên Chúa chứng giám”(Dt 11,2). Đây là đặc ân cao quý nhất mà con người có được do bởi tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa. Và Đức Maria đã nhận ra được điều căn bản này nhờ ánh sáng đức tin. Do đó, Mẹ quyết tâm sống tình thương mà Thiên Chúa dành cho mình bằng việc không ngần ngại đường xa, nắng gió đến chia sẻ với người chị họ về hồng ân mà Thiên Chúa ban cho Mẹ nói riêng, và nhân loại cách chung : Đó là Đức Giêsu Kitô, Đấng đem lại cho con người niềm vui giải thoát, mà lời ca tụng của bà Isave là một minh chứng điển hình : “Bà được chúc phúc giữa các người phụ nữ và con lòng bà được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm tôi ? Vì nầy tai tôi vừa nghe lời bà chào, hài nhi liền nhảy mừng trong lòng tôi”(Lc 1,42-44).
Cộng đoàn phụng vụ thân mến,
Chúng ta đang sống trong bầu khí của những ngày cận kề lễ giáng sinh. Và sự hân hoan vui mừng nơi chúng ta chỉ thực sự có ý nghĩa cho đời sống hiện tại cũng như mai hậu, khi chúng ta sống đức tin của mình bằng những hành vi diển tả được tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người như Đức Maria. Năm xưa, sau khi đáp tiếng xin vâng trước lời thiên sứ truyền tin, Đức Maria đã đem Ngôi Hai Thiên Chúa đến cho gia đình bà Isave, và hôm nay, chúng ta – những người đã nhận lãnh Bí tích Rửa tội trong đức tin – cũng được mời gọi đem Chúa Giêsu – Đấng Cứu Thế – đến cho tha nhân, bắt đầu từ những người thân và lan toả đến mọi người. Và để được như vậy, xin Chúa giúp mỗi người chúng ta luôn ý thức mình được Thiên Chúa yêu thương. Đây chính là động lực thúc đẩy chúng ta phục vụ để đáp lại những gì chúng ta có được nhưng không từ Thiên Chúa. Amen
Văn Hương

Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2009

Bài giảng: Chúa Nhật 2 MV (Văn Hương

Chúa nhật II Mùa vọng.
Chủ đề : Sám hối - Sự chuẩn bị cho ơn cứu độ.
Luca : 3,1-6.
----------------------------------------------------------------------------------------
Cộng đoàn phụng vụ thân mến,
Kinh nghiệm cuộc sống cho chúng ta biết : những gì chúng ta đang sở hữu là kết quả của lao động. Tức là con người phải bỏ công sức ra mới có được. Và phần thưởng Nước trời mà Thiên Chúa hứa ban cũng không nằm ngoài nguyên tắc đó. Để lãnh nhận ơn Cứu độ của Thiên Chúa, chúng ta phải chiến đấu với ma quỷ, thế gian, và xác thịt một cách liên lỷ, mà lời mời gọi sám hối của Gioan Tẩy Giả trong bài Tin mừng chúng ta vừa nghe, là một trong những phương thế giúp đạt mục đích này.
Thánh kinh cho chúng ta biết nhiều tích sự về việc sám hối. Điển hình cụ thể trong Cựu ước, là sự kiện dân thành Ninivê, sau khi nghe tiên tri Giona loan báo : “Còn 40 ngày nữa Ninivê sẽ bị phá đổ” (Gn 3,4). Họ đã đồng loạt sám hối bằng việc ăn chay, mặc áo vải thô và từ bỏ đường gian ác, cũng như những hành vi bạo lực của mình. (x. Gn 3,5-9). Và “Thiên Chúa thấy việc họ làm, thấy họ bỏ đường gian ác mà trở lại, Người hối tiếc về tai hoạ Người đã tuyên bố giáng trên họ, Người đã không giáng xuống nữa”(Gn 3,10). Còn Tân ước, thì cho chúng ta một hình ảnh hết sức sống động, đó là đám đông dân chúng tuôn đến với Gioan Tẩy Giả ở sông Giođan để chịu phép rửa sám hối (x. Mt 3,5-6 ; Mc 1,5 ; Lc 3,7). Nhưng quan trọng hơn cả, là lời kết luận sau đây của Chúa Giêsu trong dụ ngôn “Con Chiên Lạc” và “Đồng Bạc Bị Mất” (x. Lc 15,4-12) : “Tôi nói cho các ông hay : trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn”(Lc 15,7). Và thánh Matthêu, khi thuật lại một trong hai dụ ngôn vừa nói, ngài còn cho chúng ta biết : “Cha của các con, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất”(Mt 18,14). Như thế, phải nói một cách xác tín rằng : Thiên Chúa là Đấng từ bi, giàu lòng thương xót, không đánh phạt khi con người lầm lạc, phạm tội, nhưng kiên trì, chờ đợi họ sửa đổi đời sống, mà trở lại với Ngài. Do đó, vấn đề được đặt ra là, chúng ta có dám canh tân bản thân theo lời Isaia mời gọi Israel trong bối cảnh đang bị lưu đày và được thánh sử Luca trưng dẫn trong phúc âm hôm nay hay không : “Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng, hãy lấp mọi hố sâu và hãy bạt mọi núi đồi ; Con đường cong quẹo hãy làm cho ngay thẳng, con đường gồ ghề hãy san cho bằng”(Lc 3,4-6 ; x. Is 40,3-5). Tức là chúng ta cần sửa lại cho thẳng những lối đi quanh co của tư tưởng, lời nói và việc làm. Trung thành và kiên trì trong việc bổn phận. Đồng thời, lấy lòng quảng đại và lý tưởng Kitô giáo lấp đầy hố thẳm của tâm hồn. Cũng như bạt các đồi núi của sự kiêu căng, tự phụ xuống bằng đời sống khiêm hạ, và san bằng những chỗ gồ ghề trong tính tình, không tranh chấp, gây chia rẽ… Nói cách khác, sám hối chính là sự biến đổi con tim, chứ không là những hành vi phô trương bên ngoài. Chính điều này, khiến chúng ta lại trở nên như trẻ nhỏ, mang trong mình tâm hồn trẻ thơ (Mt 18,3tt). Tiếp đó là nỗ lực liên tục để tìm kiếm vương quốc Thiên Chúa và sự công chính của Ngài (Mt 6,33), để chỉnh đốn lại đời sống của mình cho phù hợp với luật mới. Và theo thánh Phaolô là “cởi bỏ con người cũ với những nếp sống xưa, là con người phải hư nátvì bị những ham muốn lừa dối… và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện”(Ep 4,22.24)
Cộng đoàn phụng vụ thân mến,
Sám hối là một trong những điều kiện để nhận lãnh ơn cứu độ, hay để nhập tịch vương quốc Thiên Chúa. Đây không phải là sáng kiến của Gioan tẩy Giả. Bằng chứng là trước ông, các tiên tri cũng từng kêu gọi dân chúng sám hối, trở về với Thiên Chúa và, đặc biệt, Chúa Giêsu – Ngôi Hai Thiên Chúa – khi khởi sự sứ mệnh của mình, đã giữ nguyên tính cách hiện đại của sứ điệp này. Người nói : “Thời kỳ đã mãn, và triều đại Nước Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối, và tin vào Tin mừng”(Mc 1,15). Như thế, sám hối thật cần thiết và giữ vai trò quan trọng cho phần rỗi của chúng ta, nhất là đang khi chúng ta chờ đợi ngày Chúa quang lâm, và cách riêng, ngày mỗi người chúng ta phải diện kiến trước toà Chúa khi lìa đời.
Xin Chúa ban cho chúng ta một tinh thần sám hối, và không ngừng thân thưa với Chúa : “Lạy Thiên Chúa, tế phẩm dâng ngài là tâm thần tan nát, một tấm lòng tan nát giày vò, Ngài sẽ chẳng khinh chê”(Tv 51,19). Amen Văn Hương

Thứ Tư, 25 tháng 11, 2009

Bài giảng: Chúa nhật I Mùa vọng (Văn Hương)

Chủ đề : Trông chờ Chúa đến.
Luca : 21, 25-38. 34-36.
----------------------------------------------------------------------------------------
Cộng đoàn phụng vụ thân mến,
Chúa Giêsu từng khuyên dạy chúng ta : hãy đọc những biến cố, hiện tượng, sự kiện xảy ra trong vũ trụ, trong đời sống thường nhật, với sự soi sáng của Tin mừng, mà canh tân đời sống theo thánh ý Thiên Chúa (x. Mt 16,2-3 ; Mc 5,25-26 ; Lc 12,54-59). Và bài Phúc âm chúng ta vừa nghe, cũng mang ý hướng tương tự, mời gọi mọi người trông chờ Chúa bằng tỉnh thức, cầu nguyện, để “khi những điều đó bắt đầu xẩy đến, chúng con hãy đứng dậy và ngẩng đầu lên, vì giờ cứu rỗi chúng con đã gần đến”(Lc 21,28).
Có thể nói, qua Thánh Kinh, chúng ta biết được sự trông chờ Đấng Messia của Israel (x. Lc 3,15), họ tin vào lời các tiên tri tuyên sấm và thể hiện qua những việc làm cụ thể, mà ông Simêon và bà Anna là một bằng chứng sống động (x. Lc 2,22-38). Bởi đó, cả Giêrusalem xôn xao khi các nhà đạo sĩ hỏi tìm “Vua dân Do thái mới sinh”(x. Mt 2,1-12), và lũ lượt kéo nhau tới sông Giođan chịu phép rửa sám hối khi Gioan loan báo Đấng Cứu Thế sắp đến (x. Mt 3,1-12). Tuy nhiên, họ lại khước từ Chúa Giêsu – Đấng Thiên Chúa hứa ban – và đặt vấn đề : “Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến bao giờ ? Nếu ông là Đấng Kitô, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết”(Ga 10,24).
Thiết nghĩ, chúng ta cũng đang sống trong tâm trạng trông chờ Chúa Kitô quang lâm, và đôi lúc có thái độ như người Do thái năm xưa. Chúng ta tin Chúa Giêsu sẽ đến lần thứ hai để thiết lập trời mới đất mới, nhưng khi đối diện với các dấu chỉ của thời đại, chúng ta lại tìm kiếm lý do phủ nhận hoặc tô vẽ cho thêm phần kỳ bí, hấp dẫn, hơn là nhìn với ánh sáng của lời Chúa, thậm chí còn sử dụng Thánh Kinh theo cách của người Do thái khử trừ Chúa Giêsu : “Đấng Kitô mà lại xuất thân từ Galilêa sao ? Nào Kinh thánh đã chẳng nói : Đấng Kitô xuất thân từ dòng dõi vua Davit và từ Bethlem, làng của vua Davit sao ?”(Ga 7,42). Đây là điều lý giải tại sao Chúa Giêsu nói với những người thuộc phái Pharisiêu, phái Sađốc và có lẽ cũng là với chúng ta như sau : “Chiều đến, các ông nói : “Ráng vàng thì nắng”, rồi sớm mai, các ông nói : “Ráng trắng thì mưa”. Cảnh sắc bầu trời thì các ông biết cắt nghĩa, còn thời điềm thì các ông lại không cắt nghĩa nổi”(Mt 16,2-3). Và thánh Luca, khi thuật lại những lời này của Chúa Giêsu, ngài còn thêm : “Sao các người không tự mình xét xem cái gì là phải ?” (Lc 12,57).
Vì thế, đang khi chờ đợi ngày Chúa quang lâm nói chung và, cách riêng là ngày cùng tận của bản thân. Chúng ta nên có thái độ vâng theo lời Chúa Giêsu mời gọi trong câu truyện những người Galilê bị giết bởi Philatô, và những người chết do thác Siloe đổ sập : “Nếu các ngươi không hối cải, thì các ngươi hết thẩy cũng sẽ bị tiêu diệt như thế”(Lc 13,3 ; x. Lc 13,15). Tức là, không ngừng cầu nguyện - sám hối, và canh tân đời sống, cũng như giữ lòng mình khỏi ra nặng nề vì chè chén say sưa và lo lắng việc đời, khi nhận biết những sự việc xẩy ra trong vũ trụ, trên thế giới và nơi cuộc sống thường nhật, hoặc nói theo Tin mừng hôm nay : “Có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao : dưới đất, các dân tộc buồn sầu lo lắng vì biển gầm sóng vỗ. Người ta sợ hãi kinh hồn chờ đợi những gì sẽ xảy đến trong vũ trụ, vì các tầng trời sẽ rung chuyển”(Lc 21,25-26).
Cộng đoàn phụng vụ thân mến,
Thánh Phaolô nói : “ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm ban đêm. Khi người ta nói : “Bình an biết bao, yên ổn biết bao !”, thì lúc ấy tai hoạ sẽ thình lình ập xuống, tựa cơn đau chuyển bụng đến với người đàn bà có thai, và sẽ chẳng có ai trốn thoát được”(1Th 5,2-3). Do đó, tỉnh thức sẵn sàng là thái độ sống đạo của người Kitô hữu. Và lời thánh Phêrô sau đây sẽ giúp chúng ta thoát khỏi những điều sẽ xẩy đến trong ngày Chúa quang lâm và đứng vững trước mặt Con Người (Lc 21,36) : “Thời cùng tận của vạn vật gần đến rồi. Anh em hãy sống chừng mực và tiết độ để có thể cầu nguyện được. Trước hết, anh em hãy hết tình yêu thương nhau, vì lòng yêu thương che phủ muôn vàn tội lỗi. Hãy tiếp đón nhau mà không lẩm bẩm kêu ca. Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ kẻ khác. Như vậy, anh em mới là những người khéo quản lý ân huệ thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa. Ai có nói, thì nói lời Thiên Chúa ; ai phục vụ thì phục vụ bằng sức mạnh Thiên Chúa ban. Như thế, trong mọi việc, chúng ta tôn vinh Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô. Kính dâng người vinh quang và uy quyền đến muôn thuở muôn đời”. Amen (1Pr 4,7-11).
Văn Hương

Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2009

Bài giảng: Lễ Chúa Kitô Vua (Văn Hương)

Chúa nhật XXXIV Thường niên – Lễ Chúa Kitô Vua.
Chủ đề : Vương quyền của Chúa Giêsu.
Gioan : 18, 33b-37.
----------------------------------------------------------------------------------------
Cộng đoàn phụng vụ thân mến,
Chúng ta vừa nghe thánh Gioan thuật lại cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Philatô. Qua đó, nói lên chức phẩm và quyền bính của Đức Kitô, đồng thời mời gọi chúng ta, nhất là những ai đang khủng hoảng niềm tin, nghi ngờ vương quyền của Chúa Cứu Thế : “Hãy tôn thờ chủ quyền của Người trên vũ trụ, trong tư thế là một Thiên Chúa và là một con người”.
Thánh Kinh khẳng định : Đức Kitô là Vua, và tước hiệu này không chỉ có người Kitô giáo xác tín, nhưng cả những người ngoại cũng tuyên xưng như thế. Trong Tin mừng Thánh Matthêu, ba Đạo Sĩ, đại diện cho toàn thể nhân loại, đã nhìn nhận “Chúa Giêsu là vua” qua hành vi tìm kiếm, thờ lạy Người (x.Mt 2,1-12). Đây là điều tiên tri Ysaya đã tuyên sấm : “Đứng lên, bừng sáng lên, vì ánh sáng của ngươi đến rồi… Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước… Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Mađian và Eyphah : tất cả những người từ Saba kéo đến, đều mang theo vàng với trần hương, và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa”(Is 60,1a.3.6). Do đó, Chúa Giêsu không chỉ là vua người Do thái như lời thẩm vấn của Philatô, nhưng Người còn là vua của mọi vương quốc trần gian (x.Kh 1,5). Không những thế, trong thư thứ nhất gửi Timôthê, thánh Phaolô cho chúng ta biết : Đức Kitô “là Chúa tể vạn phúc vô song, là vua các vua, Chúa các Chúa”(1Tm 6,15). Và sách Khải huyền cũng theo ý hướng này, khi nói đến chiến thắng của Con Chiên và những kẻ được chọn trong trình thuật về ý nghĩa tượng trưng của Con Thú và Con Điếm : “Chúng sẽ giao chiến với Con Chiên, và Con Chiên sẽ thắng chúng, vì Con Chiên là Chúa các Chúa, Vua các Vua ; những kẻ đi theo Người, tức là những kẻ được kêu gọi, được tuyển chọn, và luôn trung thành, cũng sẽ thắng”(Kh 17,14). Như vậy, ơn cứu độ chỉ dành cho những ai chấp nhận dấn thân để nên như lời Chúa Giêsu : “Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng về chân lý. Ai thuộc về chân lý thì nghe tiếng tôi”(Ga 18,37). Điển Ngữ Thần Học Thánh Kinh lý giải vấn đề này như sau : “Giữa chân lý và Đức Kitô có một mối liên hệ chặt chẽ. Đối tượng sứ điệp của Vị sứ đồ không phải là một giáo lý trừu tượng, nhưng là chính con người Đức Kitô, Đấng đã xuất hiện trong nhục thể… đã được công bố nơi lương dân, đã được tin giữa thế gian, chính Người, là chân lý mà Giáo hội là vị quản thủ, chính Người là mầu nhiệm của lòng hiếu từ. Đức Kitô chân lý mà Tin mừng loan báo không phải là một hữu thể thiên quốc theo nghĩa duy tri, song là Đức Giêsu lịch sử, đã chết và sống lại vì chúng ta” (sđd tr. 222). Bởi đó, không thể nói chân lý thuộc về kẻ mạnh, vì là của những ai tin nhận Chúa Giêsu, và vị Tông đồ dân ngoại quả quyết, nhờ lòng tin này, chúng ta được nên công chính (x.Rm 10,5-13), nên giống như Đức Kitô mà thư Do thái mô tả qua hình ảnh ông Melkiseđek : “Ông Abraham đã chia cho ông Melkiseđek một phần mười chiến lợi phẩm. Trước hết, ông tên là Melkiseđek, nghĩa là vua công chính, rồi ông lại là vua Salem, nghĩa là vua bình an”(Dt 7,2). Ước gì, sứ điệp lời Chúa hôm nay, giúp mỗi người chúng ta thêm xác tín : Vương quyền của Chúa Giêsu không giống với cách thống trị của nhân thế, mà là tình yêu. Người là hiện thân của sự thật vốn tự mặc khải, sự thật của lòng trung thành và thương xót vô biên của Thiên Chúa. Và khi chúng ta làm chứng cho một vị vua, một vương quốc như thế giữa trần gian này, thì thuộc về chân lý và Chúa Kitô, Đấng đã bị treo lên trên thập giá, sẽ thiết lập triều đại thanh bình vui tươi của Người trong tâm hồn chúng ta.
Cộng đoàn phụng vụ thân mến,
Mừng lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ, chúng ta được mời gọi đón nhận những thực tại Chúa Giêsu đem đến mà chúng ta gặp thấy trong Tin mừng, trong Giáo Hội, trong các nhiệm tích, cũng như nơi tha nhân, đồng thời sống phù hợp với những gì Thiên Chúa mặc khải. Được như vậy, cuộc sống của chúng ta sẽ trở thành lời ngợi khen như sách Khải huyền của thánh Gioan ca tụng : “Lạy Chúa là Thiên Chúa toàn năng, sự nghiệp Ngài thật lớn lao kỳ diệu ! lạy Đức Vua trị vì muôn nước, đường lối Ngài quả chân thật công minh ! Lạy Chúa, nào có ai không kính sợ Chúa ? Ai mà chẳng tôn vinh danh Ngài ? vì chỉ có Ngài chí thánh chí tôn. Người muôn nước sẽ về phủ phục trước tôn nhan, vì ai ai cũng đều thấy rõ những phán quyết công minh của Ngài”(Kh 15,3-4). Amen. Văn Hương

Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2009

Bài giảng: Lễ các thánh Tử đạo Việt nam (Văn Hương)

Chủ đề : Lòng kính sợ Chúa.
Matthêu : 10,28-32.
----------------------------------------------------------------------------------------
Cộng đoàn phụng vụ thân mến,
Hôm nay Giáo hội hân hoan mừng kính các thánh Tử đạo Việt nam, và mời gọi chúng ta tiếp bước cha ông, tuân giữ giới răn thứ nhất, can đảm làm chứng cho Chúa Kitô, tuyên xưng niềm tin của mình trong đời sống thường nhật, ngõ hầu cũng được chung hưởng phần phúc Nước trời như các ngài.
“Các con đừng sợ những kẻ giết được thân xác, nhưng không thể giết được linh hồn : Các con hãy sợ Đấng có thể ném cả xác lẫn hồn xuống hoả ngục”(Mt 10,28). Lời này của Chúa Giêsu không chỉ nói lên con người vốn hèn nhát, sợ hãi sự đàn áp, kinh khiếp khổ đau và lo mất an toàn, nhưng còn hướng chúng ta đến quan niệm của Do thái giáo trong Cựu ước, để hiểu “sợ Đấng quyền năng tối thượng” hay “kính sợ Thiên Chúa” theo nghĩa tôn kính, tôn thờ, mến yêu. Và Thiên Chúa không phải là mối đe doạ cho sự sống còn của thân xác cũng như linh hồn chúng ta, vì Ngài là Cha yêu thương, luôn trung thành với lời đã hứa : “Ai tuyên xưng Thầy trước mặt người đời, thì Thầy cũng tuyên xưng nó trước mặt Cha Thầy là Đấng ngự trên trời”(Mt 10,32), tức là được vào hưởng vinh quang thiên quốc. Và các thánh Tử đạo Việt nam là những người xác tín chân lý này, cho nên, các ngài đã nỗ lực sống đức tin để nên như lời thánh Phaolô trong thư Do thái : “Có những người bị tra tấn mà không muốn được giải thoát, để được hưởng một sự sống lại tốt đẹp hơn. Có những người phải chịu nhạo cười và roi vọt, hơn nữa còn bị xiềng xích và bỏ tù ; họ bị ném đá, bị cưa đôi, bị chết vì gươm, họ phải lưu lạc mặc áo da cừu, da dê, chịu thiếu thốn, bị áp bức và hành hạ”(Dt 11,35b-37). Do đó, khi nhìn vào các thánh tử đạo, chúng ta có thể nói rằng : cuộc đời của các ngài là một bài giảng lý giải nguyên nhân hiến thân vì Chúa Kitô mà Kinh Thánh nêu lên như sau : “Kính sợ đức Chúa là bước đầu của khôn ngoan, biết Đấng Chí Thánh, mới là hiểu biết thật”(Cn 9,10). Như vậy, không có gì ngạc nhiên khi các thánh tử đạo chọn Thiên Chúa, sự sống vĩnh hằng và bỏ thế gian, những thứ chóng qua, đồng thời cho người khác nhận biết như tác giả sách Huấn ca xác quyết : “Hỡi ai kính sợ Đức Chúa, hãy trông đợi lòng lân tuất của Người, đừng lìa xa Người kẻo ngã. Hỡi ai kính sợ Đức Chúa, hãy tin vào Người, và các bạn sẽ không mất phần thưởng đâu. Hỡi ai kính sợ Đức Chúa, hãy đợi trông ơn lành, niềm vui không cùng và lòng thương xót. Hãy nhìn lại các thế hệ ban đầu mà xem : nào có ai tin vào Đức Chúa mà bị hổ thẹn bao giờ : hoặc có ai kêu cầu Người mà bị Người khinh dể ? vì Đức Chúa là Đấng nhân từ và hay thương xót, Người thứ tha tội lỗi và cứu vớt trong lúc gian truân”(Hc 2,8-11). Thiết nghĩ, nếu đặt vấn đề : chúng ta có kính sợ Thiên Chúa không ? chắc chắn ai cũng trả lời có. Tuy nhiên, thực tế chứng minh ngược lại. Vì như Sách Thánh nói : lòng kính sợ Đức Chúa làm cho con người yêu mến và tuân giữ các giới răn (x. Hc 34,14-33,1-6), còn chúng ta thì không ngừng phạm tội, xúc phạm đến nhân phẩm người khác, lấn quyền Thiên Chúa về sự sống, cũng như tự làm cho mình ra nhơ nhớp, ô uế bởi những đam mê xấu xa và dục vọng đê hèn, không những thế, chúng ta còn có những chọn lựa sai trái thể hiện sự nghi ngờ tình yêu quan phòng được chính Chúa Giêsu đảm bảo : “Nào người ta không bán hai chim sẻ với một đồng tiền đó sao ? Thế mà không con nào rơi xuống đất mà Cha các con không biết đến. Phần các con, tóc trên đầu các con đã được đếm cả rồi. Vậy các con đừng sợ, các con còn đáng giá hơn chim sẽ bội phần”(Mt 10,29-30). Như thế, để nên như các thánh tử đạo, chúng ta cần nỗ lực nhiều hơn, xây dựng đời sống đức tin của mình trên nền móng : “yêu mến, phụng thờ Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn”.
Cộng đoàn phụng vụ thân mến,
Nói đến những ích lợi có được do thờ phượng và kính mến một Đức Chúa trời trên hết mọi sự, thì Thánh vịnh 25(24) từ câu 12 đến hết câu 14, cho chúng ta biết : “Phàm ai kính sợ Đức Chúa, Người chỉ cho thấy đường phải chọn. Họ sẽ được an vui hạnh phúc một đời, và con cháu thừa hưởng đất tổ tiên. Chúa xử thân tình với những ai kính sợ Chúa và cho họ biết giao ước của người”(Tv 25,12-14). Còn sách Châm ngôn thì tin tưởng như sau : “Lòng kính sợ Đức Chúa đem lại sự sống, cho người ta ăn no ngủ kỹ, thoát khỏi mọi tai ương”(Cn 19,23).
Ước gì khi mừng kính các thánh Tử đạo Việt nam, chúng ta noi gương các ngài, thể hiện lòng kính sợ Thiên Chúa qua tư tưởng, lời nói, và việc làm để đời sống hiện tại và mai hậu nên như lời Kinh Thánh : “Nào những kẻ Cha ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng vương quốc dọn sẵn cho các ngươi từ thuở tạo thiên lập địa”(Mt 25,34). Amen.
Văn Hương

Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2009

Bài giảng CN-XXXII-TN-B (Văn Hương)

Chủ đề : Của lễ và tấm lòng.
Marcô : 12,38-44.
--------------------------------------------------------------------
Cộng đoàn phụng vụ thân mến,
Chúng ta vừa nghe thánh Marcô thuật lại lời Chúa Giêsu nhận xét về người Kinh sư và bà goá nghèo khó. Qua đó cho thấy, giá trị của hành vi tâm linh hệ tại ở tấm lòng chứ không do những gì thể hiện bên ngoài hoặc vật chất qui định, đồng thời mời gọi chúng ta nhìn lại đời sống đạo của bản thân : tương quan giữa chúng ta với Thiên Chúa và với tha nhân có xuất phát từ tâm hồn vốn hướng thiện không ? hay vì muốn tôn vinh mình hoặc chuộc lợi… như những chức sắc Do thái giáo trong bài Phúc âm.
“Các ngươi hãy coi chừng bọn luật sĩ. Họ thích đi lại trong bộ áo thụng, ưa được bái chào ngoài công trường, chiếm những ghế nhất trong hội đường và trong đám tiệc. Họ giả bộ đọc những kinh dài để nuốt hết tài sản của các bà goá : Họ sẽ bị kết án nghiêm nhặt hơn”(Mc 12,38-40). Lời này của Chúa Giêsu không chỉ nói lên xu hướng chung của con người : ưa chuộng hình thức, thích được đề cao, tôn trọng, cũng như cảnh cáo một số người nhân danh điều thiện, chẳng hạn các hành vi tôn giáo để thu tích của cải. Nhưng quan trọng hơn là nhắc chúng ta nhớ đến lời sấm của Ysaya lên án Israel sống đạo giả tạo : “Dân này chỉ đến gần Ta bằng miệng, tôn vinh Ta bằng môi, còn lòng chúng thì xa Ta lắm, chúng chỉ kính sợ Ta theo lệnh của người phàm, nhưng đó chỉ là sáo ngữ”(Is 29,13). Chính vì thế, Thiên Chúa bày tỏ thái độ của Ngài, chống lại kiểu phụng tự nhìn bề ngoài xem ra hoành tráng, nhưng không có lòng thành qua lời tiên tri Amos : “Lễ lạt của các ngươi, Ta chán ghét khinh thường ; hội hè của các ngươi ta chẳng hề thích thú. Các ngươi có dâng lên Ta của lễ toàn thiêu… những lễ vật của các ngươi, Ta không vui nhận, chiên bò béo tốt các ngươi đem hiến tế, Ta chẳng đoái hoài. Hãy dẹp bỏ tiếng hát om sòm của ngươi, Ta không muốn nghe tiếng đàn của ngươi nữa. Ta chỉ muốn cho lẽ phải như nước tuôn trào, cho công lý như dòng suối không bao giờ cạn”(Am 5,21-24). Như vậy, có thể quả quyết rằng : của lễ Thiên Chúa muốn không phải là vật chất nhưng là tấm lòng đối với Ngài, và những việc tốt lành chúng ta làm cho người khác. Bởi đó, không có gì quá ngạc nhiên, khi Chúa Giêsu – Đấng thấu suốt lòng dạ con người – đã khen ngợi bà goá nghèo khó, vì bỏ tất cả những gì bà có để nuôi sống mình, vào hòm tiền nơi đền thờ Giêrusalem, qua đồng xu mà xét về giá trị là không đáng kể. Nói như thế, không có nghĩa loại bỏ các yếu tố vật chất trong hành vi thờ tự, quay về với quan niệm đạo tại tâm, nhưng những gì chúng ta sử dụng để thể hiện tương quan với Thiên Chúa và tha nhân phải diễn tả tròn đầy giới răn trọng nhất, vì “Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu người thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ vật toàn thiêu và hy lễ” (Mc 12,33). Thiết nghĩ, trong chúng ta ai cũng có tinh thần trao ban như bà goá trong Phúc âm, vì tự thân “nhân chi sơ, tính bản thiện”, nhưng cũng không thể phủ nhận chúng ta thường rơi vào cám dỗ tìm kiếm điều gì đó, có thể là tinh thần, và đôi lúc dính bén đến cả tiền bạc khi chúng ta thực hành các giáo huấn của Chúa Giêsu. Ví dụ : Phục vụ nhà Chúa, làm việc bác ái, dâng cúng … vv. Điều này phản ánh bản tính tự nhiên của con người, và Chúa Giêsu đã từng nói : “Thợ thì đáng được nuôi ăn”(Mt 10,10b). Tuy nhiên, việc làm của chúng ta có hợp thánh ý Thiên Chúa Không ? và ai là người tính công cho chúng ta mới là điều quan trọng. Ước gì câu lời Chúa sau đây giúp chúng ta suy gẫn và sống sứ điệp của Tin mừng hôm nay : “khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, để người ta khen. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh” (Mt 6,2-4).
Cộng đoàn phụng vụ thân mến,
Tấm lòng trọng hơn của lễ, và Thánh vịnh 40 (41) lý giải như sau : “Chúa chẳng thích gì tế phẩm và lễ vật, nhưng đã mở tai con ; lễ toàn thiêu và lễ xá tội Chúa không đòi, con liền thưa : Này con xin đến : Trong sách có lời chép về con rằng : con thích làm theo thánh ý, và ấp ủ luật Chúa trong lòng, lạy Thiên Chúa của con”(40[41],7-8). Như thế, sống theo ý Chúa muốn là của lễ đẹp lòng Thiên Chúa nhất, và chúng ta chỉ có thể thực hiện được khi và chỉ khi chúng ta có được nhân đức thiên phú, đó là tấm lòng tràn đầy tình yêu đức ái, nhờ đó chúng ta yêu mến Thiên Chúa vì chính Người và, yêu thương tha nhân cũng như yêu chính chúng ta vì Thiên Chúa. Amen \
Văn Hương

Thứ Bảy, 31 tháng 10, 2009

Bài giảng Lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời (Văn Hương)

LỄ CẦU CHO CÁC TÍN HỮU ĐÃ QUA ĐỜI.
Chủ đề : Sống chữ hiếu như ý Chúa.Matthêô 15,1-6.
------------------------------------------------------------------------------------------------Kính thưa quý ông bà và anh chị em,
Truyền thống của người công Giáo, ngày mồng 2 tháng 11 được dành riêng để cầu nguyện cho các linh hồn. Cách riêng, chúng ta nhớ đến tổ tiên, ông bà cha mẹ, anh chị em bằng hữu đã khuất và cầu nguyện cho họ. Đây là lý do nói lên sự hiện diện của chúng ta trong nghĩa trang này. Những hành vi chúng ta làm cho những người quá cố như : thắp một nén hương đặt bên phần mộ, đọc kinh cầu hồn…, không chỉ biểu lộ lòng tin vào Chúa Kitô đã chết và sống lại, cũng như tin rằng những người đã an giấc trong Đức Giêsu Kitô, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng với Ngài, nhưng còn diễn tả tấm lòng thảo hiếu, biết ơn hướng về cội nguồn :Con người có cố có ông
Như cây có cội như sông có nguồn.
Quả vậy, không ai trong chúng ta từ lổ nẻ chui lên, sự hiện hữu của chúng ta không chỉ là ân ban, là thánh ý Thiên Chúa, nhưng còn là một phần của tổ tiên, ông bà cha mẹ. Vì thế, thảo hiếu đối với các ngài, không chỉ dừng lại ở mức độ bổn phận, mang tính nghĩa vụ phải chu toàn, nhưng còn vì Thiên Chúa muốn như thế. Tức sự hiếu thảo không do con người đặt ra, nhưng do bởi thánh ý Thiên Chúa, mà những gì xuất phát từ Thiên Chúa thì con người không thể thay đổi. Trong thập giới, điều răn thảo kính cha mẹ được xếp ngay sau những việc phải làm đối với Thiên Chúa. Sách Đệ nhị luật chương 5 câu 16 nói đến những giá trị thực tiễn mà con người được Thiên Chúa ban thưởng khi chu toàn bổn phận làm con : "Hãy trọng kính cha mẹ như Giavê Thiên Chúa của ngươi đã truyền cho ngươi, ngõ hầu ngày đời ngươi kéo dài, và phúc đến cho ngươi trên thửa đất Giavê Thiên Chúa của ngươi sắp ban cho ngươi"(Đnl 5,16). Còn sách Huấn ca coi việc thảo kính cha mẹ như một phương thế để có thể được ơn cứu độ : "Ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm, ai kính mẹ thì tích trữ kho báu" (Hc 3,3-4). Như thế, chữ hiếu được Thánh kinh đề cao và coi trọng đồng thời chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống chúng ta. Khi thuật lại việc Chúa Giêsu tranh luận với những người biệt phái và Kinh sư về các tập tục truyền thống của tiền nhân. Thánh sử Marcô nói với chúng ta thái độ của Chúa Giêsu, Người lên án chủ nghĩa hình thức, nhất là trách nhiệm thảo kính Cha mẹ, vì trong đời sống người Do thái thời đó, giới răn thứ tư đã bị các tập tục của Biệt phái coi nhẹ và xếp sau một số quy luật về phụng tự. Chúa Giêsu Lặp lại bản chất đúng thực cho các sự việc. Theo đó, việc thảo kính cha mẹ trong mọi dân tộc là một điều tất yếu, không luật lệ tế tự nào có thể huỷ bỏ được ! "Quả thế, Thiên Chúa dạy : ngươi hãy thờ cha kính mẹ ; kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử. Còn các ông, các ông lại bảo : “Ai nói với cha mẹ rằng : những gì con có thể giúp cha mẹ đều là lễ phẩm dâng cho Chúa rồi, thì người ấy không phải thờ cha kính mẹ nữa”. Như thế, các ông dựa vào truyền thống của các ông mà huỷ bỏ lời Thiên Chúa"(Mt 15, 4-6). Lời này của Chúa Giêsu mời gọi chúng ta nhìn lại cách cư xử với ông bà, cha mẹ của mình. Đời sống hiếu thảo không do áp lực của xã hội, nhưng được xây dựng trên nền tảng của đức mến và với sự soi dẫn của lời Chúa. Những cử chỉ bề ngoài không quan trọng, những "tấm lòng" mới đáng kể: Thảo kính cha mẹỉ cho có vẻ thảo kính sẽ không có giá trị gì. Việc thảo kính cần phải diễn tả bằng những tâm tình thâm sâu. Tục ngữ Việt Nam có nói : của cho không bằng cách cho, mọi hành vi nhân linh phải có mục đích chuyển tải tình yêu, mà Thiên Chúa là nguồn gốc. Có như thế, việc thảo kính cha mẹ của chúng ta mới thực sự có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Sách huấn ca nói : chúng ta là tài sản quý báu của tổ tiên và ông bà cha mẹ. Bởi chưng dòng dõi của các ngài giữ vững các điều giao ước. Việc ca ngợi công đức của các ngài chính là lòng trung thành với Thiên Chúa của con cháu. Do đó, việc thảo kính tổ tiên, ông bà cha mẹ, anh chị em bằng hữu đã khuất, không dừng lại ở những việc làm bên ngoài mà phải đi vào nội tâm. Ở đây, chúng ta nhìn lại chính mình, xét lại mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa – Đấng cho chúng ta hiện hữu – và mối tương quan của chúng ta với tha nhân, nhất là những người trong dòng tộc, để từ đó chúng ta sống chữ hiếu không chỉ như ý Chúa muốn mà còn trở nên gương mẫu cho người khác.
Kính thưa quý ông bà và anh chị em,Hôm nay chúng ta quây quần nơi đây trong ngày lễ cầu nguyện cho các đẳng linh hồn. Chúng ta đang đứng bên phần mộ của những người rất thân thương của chúng ta. Họ đã có một thời gian sống với chúng ta. Họ đã một đời gắn bó với chúng ta. Họ có thể là cha, là mẹ, là anh em bè bạn của chúng ta. Thế nhưng, “một cơn gió thoảng” đã khiến họ xa cách chúng ta ngàn trùng. Nhìn xuống nấm mộ mà lòng nghẹn ngào thốt lên : Phận người thật mong manh. Cuộc đời thật chóng vánh. Bởi đó, Nếu không tin vào sự sống mai sau và lòng từ bi thương xót của Thiên Chúa thì chẳng ai tưởng nhớ đến họ làm gì, vì mọi lời cầu nguyện và nghĩa cử chúng ta làm cho người chết đều trở nên vô nghĩa và việc thể hiện lòng hiếu thảo chẳng qua là lấy tiếng với đời hoặc để trấn an lương tâm. Ước gì khi chúng ta dâng các việc lành phúc đức và cầu nguyện cho những người đã khuất là chúng ta không những trực tiếp bày tỏ lòng biết ơn, thảo hiếu mà còn tuyên xưng niềm tin vào lòng từ bi thương xót của Thiên Chúa – Đấng muốn những kẻ tin nhận Ngài, được Ngài mạc khải cho biết Danh Chúa Cha – được chung hưởng phần phúc vinh quang thiên quốc : “Lạy Cha, những kẻ Cha ban cho Con thì Con muốn rằng : Con ở đâu chúng cũng ở đấy với Con, để chúng chiêm ngưỡng vinh quang mà Cha đã ban cho Con, vì Cha yêu mến con trước khi tạo thành thế gian”(Ga 17,24). Xin cho lời Thánh Phaolô trong thư gửi Ephêsô nhắc nhớ chúng ta chu toàn bậc sống của mình hằng ngày : "Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa vì đó là điều phải đạo. Hãy tôn kính cha mẹ, đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa : để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này. Những bậc làm cha mẹ, đừng làm cho con cái tức giận nhưng hãy giáo dục chúng thay mặt Chúa bằng cách khuyên răn và sửa dạy"(Ep 6,1.4b). Được như vậy, thì lời nguyện cầu cho các linh hồn tổ tiên, ông bà, cha mẹ và thân bằng quyến thuộc của chúng ta chắc chắn được Chúa chấp nhận. Vì Thiên Chúa đã ban cho chúng ta đặc ân được cộng tác vào công nghiệp của Chúa Kitô để cứu độ bản thân và cứu độ đồng loại, mặc dù chúng ta tội lỗi bất xứng. Xin Chúa cho chúng ta luôn ý thức được điều đó để chúng ta sống tốt bổn phận của mình đối với những người đã qua đời. Amen

Thứ Tư, 28 tháng 10, 2009

Bài giảng lễ các thánh nam nữ (Văn Hương)

Chủ đề : Lòng muốn nên thánh thiện.
Matthêu : 5,1-12a.
----------------------------------------------------------------------------------------

Cộng đoàn phụng vụ thân mến,
Trích đoạn Tin mừng mà chúng ta vừa nghe trong ngày lễ các Thánh nam nữ hôm nay. Không chỉ có mục đích mời gọi tất cả các Kitô hữu nên thánh qua việc thực thi các mối phúc trong cuộc sống thường nhật, nhưng còn là lời ca ngợi sự thánh thiện của những người được chọn, đã noi gương Chúa Giêsu trong đời sống của mình.
Có thể nói, không một ai trong chúng ta chưa từng được nghe Chúa Giêsu khuyên dạy trong Phúc âm : “Các con hãy nên hoàn thiện, như Cha các con trên trời là Đấng hoàn thiện”(Mt 5,48). Và các thánh, là những người đã đáp lại lời kêu gọi này bằng việc sống theo tinh thần của Bát Phúc để trở nên giống Chúa Giêsu, thông phần cuộc khổ nạn phục sinh với Ngài. Nhìn vào đời sống của các thánh. Sách Gương Chúa Giêsu đã thốt lên một cách thán phục : “Ôi đếm sao được, cân sao được những đau khổ các thánh Tông đồ, các thánh Tử đạo, các thánh Hiển tu, các thánh Đồng trinh và tất cả những người muốn bước theo lối Chúa Kitô phải chịu”(sđd tr.41). Và đây là bằng chứng trong Thánh kinh, với kinh nghiệm của Phaolô, được ghi ở thứ thứ hai gửi Côrinthô : “Năm lần tôi bị người Do thái đánh bốn mươi roi bớt một ; ba lần bị đánh đòn ; một lần bị ném đá ; ba lần bị đắm tàu ; một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi ! Tôi còn hơn họ, vì phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em. Tôi còn phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng”(2Cr 24-27). Sở dĩ thánh Phaolô và các thánh chấp nhận thua thiệt, mất mát ở đời này, vì các ngài cảm nhận được thực tại bất biến từ lời Chúa : “Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai liều mạng sống mình vì tôi và vì Tin mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”(Mc 8,35). Thiết nghĩ, để có đời sống như các thánh, chúng ta nên theo gương các ngài, luôn có lòng khao khát tìm kiếm những gì thuộc thượng giới nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa, để nên trọn lành, chứ không chú tâm tích luỹ cho mình những gì thuộc hạ giới, mà chúng ta ai cũng biết : đó là những thói hư tật xấu, những đam mê khiến nhân phẩm bị bôi nhọ và giết chết linh hồn như kiêu ngạo, dâm dật, trộm cắp, rượu chè, cờ bạc …vv.
Thánh Tôma Aquinô, khi được hỏi phải làm gì để trở nên thánh thiện, ngài đã trả lời bằng một câu ngắn gọn : “hãy ước ao điều đó”. Và các nhà linh đạo quả quyết rằng : ước muốn chiếm năm mươi phần trăm thành công của sự việc. Như thế, lòng muốn nên thánh là điều kiện cần và là tiền đề cho việc sống giáo huấn của Chúa Giêsu. Bởi đó cho nên, Giáo hội không ngừng khơi dậy nơi chúng ước muốn nên hoàn hảo như Chúa Cha qua việc mừng kính các thánh, và qua việc kêu gọi bằng các giáo huấn cũng như đời sống của mình. Trong hiến chế tín lý về Giáo hội, Công đồng Vaticanô II nói : “Tất cả mọi người trong Giáo hội – hoặc thuộc hàng giáo phẩm hoặc được hàng giáo phẩm dìu dắt – đều được kêu gọi nên thánh, như lời thánh Tông đồ dạy : Vì Thiên Chúa muốn anh em được thánh hoá [1th 4,3 ; x.Eph 1,4]” (LG 39).
Tuy nhiên, nên thánh không phải là chuyện có thể giải quyết trong một hai ngày nhưng là cả cuộc đời. Vì thế, ước muốn nên thánh phải liên tục, mãnh liệt, không ngừng nung nấu làm tăng trưởng đời sống tâm linh, để đạt tới sự thánh thiện thực sự. Đây là ước muốn siêu nhiên mang dấu ấn của ân sủng, vượt trên những nhu cầu và khuynh hướng tự nhiên. Do đó, “Thánh Tông đồ khuyên sống xứng đáng như những vị thánh" (Eph 5,3) và mặc lấy lòng thương xót, nhân hậu, khiêm nhường, tiết độ và nhẫn nại như những người đã được Thiên Chúa chọn lựa thánh hoá và yêu thương (Col 3,12), và dùng hoa trái của Thánh Thần mà thánh hoá mình [x.Gal 5,22 ; Rm 6,22]. Nhưng vì chúng ta ai cũng có nhiều lầm lỗi [x.Giac 3,2], nên chúng ta luôn cần đến lòng nhân từ của Thiên Chúa và hằng ngày cầu nguyện "Xin Chúa tha nợ chúng tôi" [Mt 6,12]”(LG 40).Cộng đoàn phụng vụ thân mến,Công đồng Vaticanô II khẳng định : “Tất cả các Kitô hữu, bất cứ theo bậc sống hay địa vị nào, đều được kêu gọi tiến đến sự viên mãn của đời sống Kitô giáo và đến sự trọn lành của đức ái”(LG 40). Và kết quả thực tiễn của đời sống thánh được Thánh Công Đồng nêu lên như sau : “Ngay trong xã hội trần thế sự thánh thiện này cũng giúp người ta sống nhân đạo hơn”(LG 40). Như thế, Kitô hữu chúng ta được mời gọi không chỉ nên thánh mà thôi, nhưng còn phải thực hiện sự thánh thiện trong đời sống cụ thể.
Xin Chúa giúp chúng ta thường xuyên khơi dậy nơi bản thân ước muốn nên thánh bằng đời sống tin tưởng, cậy dựa vào ân sủng của Thiên Chúa, cũng như tiếp cận gương các thánh nhân để bắt chước sống phục tùng, hy sinh, khó nghèo, khiêm nhượng và nhẫn nhục như các ngài. Amen.
Văn Hương

Bộ sưu tập hình hang đá máng cỏ

Liên kết các Blog

  • - CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN – B KÍNH TRỌNG THỂ ĐỨC MẸ MÂN CÔI Is 61,9-11; Gl 4,4-7; Lc 1,26-38 CHỦ ĐỀ: MARIA, NGƯỜI NỮ ĐỨC TIN SỨ ĐIỆP: Siêng năng lần hạt; ca...

Album CHẶNG ĐÀNG THÁNH GIÁ

Album SAO CON KHÔNG CÓ LỜI RU

Lượt xem:

Web Page Traffic Counter

Powered By Blogger