CN XXXIV-TN-B
CHÚA KITÔ VUA PHỤC VỤ VÀ SỰ THẬT
Đn 7, 13-14; Kh 1, 5-8; Ga 18, 33-37
I. LỜI ĐẦU LỄ
Kính thưa… hôm nay, Chúa Nhật 34 -TN; cũng là Chúa Nhật cuối của năm phụng vụ, Giáo Hội mừng lễ Chúa Kitô Vua.
Là Kitô hữu, chúng ta tuyên xưng Đức Kitô là vua vũ trụ, là vua Sự thật và là vua của chúng ta;
Tham dự thánh lễ hôm nay, chúng ta quyết tâm sống phục vụ theo gương Chúa Kito và làm chứng cho sự thật để xứng đáng là “thần dân” của Ngài; ngõ hầu, khi trở lại vào ngày kết thúc lịch sử, Vua Kitô sẽ đón đưa chúng ta vào vương quốc Sự Thật vĩnh cửu của Ngài.
II. GIẢNG
Kính thưa…
Hôm nay -Chúa Nhật cuối của năm phụng vụ- Giáo Hội mừng lễ Chúa Kitô - Vua vũ trụ. Năm phụng vụ mở đầu bằng mầu nhiệm Chúa Nhập thể, khai triển qua cuộc tử nạn, phục sinh để rồi kết thúc bằng vương quyền viên mãn của Đức Kitô. Như vậy, năm phụng vụ tượng trưng cho chu kỳ thời gian bắt đầu từ Đức Kitô và cuối cùng trở về với Ngài. Ngài là Alpha và Ô-mê-ga; là khởi đầu và là cùng đích của vũ trụ và lịch sử nhân loại. Cho nên thật thích hợp khi kết thúc năm phụng vụ, Giáo hội mừng lễ Chúa Kitô là Vua vũ trụ.
Tuy nhiên, để có thể hiểu và sống mầu nhiệm cử hành hôm nay, chúng ta cần cùng nhau tìm hiểu: Đức Kitô là vua thế nào? Và chúng ta phải sống làm sao để xứng đáng là thần dân của Chúa?
1. Đức Kitô là vua phục vụ, vua sự thật
Khi nói tới vua, người ta thường nghĩ tới sự tranh giành địa vị; nghĩ tới quyền uy, sa hoa, thậm chí còn sa đọa nữa! Hình ảnh vua chúa uy quyền, ăn xài xa hoa, ăn chơi sa đọa đã được không ít sách sử cũng như phim ảnh kể lại. Chẳng hạn: Tần Thủy Hoàng, Càn Long, Minh Mạng…[ăn nhậu thâu đêm suốt sáng, trong hoàng cung có hàng ngàn cung nữ…]
Trái với hình ảnh vua chúa thời phong kiến, Đức Giêsu -khi thi hành sứ vụ- chẳng hề nhận mình là vua mặc dù không ít lần dân chúng tìm cách suy tôn Ngài. Có lần, sau phép lạ hoá bánh ra nhiều, dân chúng muốn suy tôn Ngài làm vua, nhưng Ngài tránh đi nơi khác. Khi tiến vào thành Gierusalem, dân chúng trải áo lót đường, tay cầm nhành thiên tuế, miệng không ngớt lời chúc tụng: “Chúc tụng Đức vua, Đấng nhân danh Chúa mà đến; hoan hô con vua David, chúc tụng vương quyền Người đến muôn đời….”
Khi chúc tụng như thế, người Do thái tưởng rằng Ngài là Đấng Messias quân vương, quyền lực xuất hiện như một lãnh tụ chính trị, một nhà quân sự tài ba để phất cờ khởi nghĩa đánh đuổi ngoại bang, gầy dựng một vương quốc Israel hùng mạnh; thì Đức Giêsu lại bình thản cưỡi lừa vào thành theo sau không phải là binh hùng tướng hậu mà là đoàn dân thất học, nghèo khó.
Tin Mừng hôm nay cho biết, trong tay không một tất sắt, không một đội quân, Đức Giêsu bị nộp trước quan tổng trấn của đế quốc Rôma. Trong tình cảnh thảm thương nhất: tay bị trói, đầu đội mão gai, mình mẩy bê bết máu, Ngài lại nhận mình là Vua. Nhưng Ngài cho biết Ngài là vua không phải như vua chúa thế gian mà là vua phục vụ, vua sự thật. Ai muốn trở nên tôi tớ phục vụ, ai hâm mộ sự thật thì theo Ngài.
a. Đức Kito là vua phục vụ:
OBACE thân mến,
Đức Kitô thực sự là Thiên Chúa quyền năng, là vua vũ trụ, là Chúa muôn loài. Nhưng Ngài đã hạ mình trở nên giống chúng ta, để có thể yêu thương và phục vụ chúng ta, như Ngài đã tuyên bố: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28).
Trong cuộc sống trần thế, Ngài rao giảng mọi nơi, gặp gỡ, tiếp xúc mọi hạng người, chữa lành bệnh tật cho mọi đối tượng. Thậm chí, Ngài còn phục vụ các môn đệ của mình bằng cách cúi xuống rửa chân cho họ.
Cử chỉ phục vụ cao cả nhất là Ngài đã hiến mạng sống, đón nhận cái chết trên thập giá để nên giá chuộc cho nhân loại. Trên thập giá, Ngài đích thực là vua như lời đã được Philato cho ghi trên tấm bảng: “Giêsu Nagiaret Vua dân Do Thái”.
b. Đức Kito là vua sự thật:
Nhiều người ngày nay cứ hay phàn nàn vì mua phải của gian, vua nhầm hàng giả. Chuyện kể rằng: [Anh chàng tự tử không chết vì dây thừng giả, thuốc rầy giả; cuối cùng uống rượu ăn mừng thì chết vì rượu tây giả!].
Thế cho nên người ta gọi thế giới này là thế gian chứ không phải là thế ngay! Bởi vì thế gian đã nghe lời ma quỷ; mà ma quỷ là vua của sự dối trá.
Tin Mừng Gioan ngay từ đầu cho biết: Ngôi Lời là ánh sáng, là Thiên Chúa Thật đã đến thế gian; nhưng thế gian đã không tiếp nhận Người. Các thế lực tăm tối, giả dối vẫn luôn tìm cách loại trừ Ngài.
Quả thật, Đức Giêsu là Đấng vô tội nhưng đã bị các thượng tế tìm người cáo gian trình lên Philato. Philato xét Đức Giêsu vô tội nhưng vẫn kết án tử vì sợ bị ảnh hưởng tới công danh, địa vị.
Tuy nhiên, qua phiên tòa này, Đức Giêsu khẳng định ngài là vua thật. Và ngài đến thế gian để làm chứng cho sự thật. Sự thật là Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một. Sự thật là Ngài -Ngôi Hai Con Thiên Chúa- đã làm Người cứu độ con người bằng con đường thập giá. Qua cái chết và phục sinh vinh hiển, Ngài làm cho vương quốc sự thật được truyền bá và lan rộng. Ngài đã về trời nhưng Ngài sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét muôn loài như bài đọc thứ nhất, tiên tri Daniel đã loan báo: “Tôi thấy con Người uy nghi đến trong đám mây trời…mọi tiếng nói đều phụng sự Ngài. Quyền năng Ngài là quyền năng vĩnh cửu, vương quốc của Ngài không khi nào bị phá hủy”.
2. Kitô hữu sống phục vụ và làm chứng cho sự thật.
Là môn đệ Chúa Kito -trong khi trông đợi ngài đến trong vinh quang- nhiệm vụ của chúng ta là phục vụ theo gương Chúa Giêsu và làm chứng cho sự thật.
Theo gương Đức Giêsu, nhiều thế hệ Kitô hữu đã phục vụ, đã làm chứng cho sự thật; nhờ vậy mà ngày càng có nhiều người tin và tôn thờ Đức Kito là vua. Chẳng hạn gương phục vụ của Mẹ Teresa Calcutta, của Đức Cha Jean Cassien, của cha Damien - tông đồ người hủi. Các vị tử đạo cũng làm chứng cho sự thật khi chấp nhận cái chết vì đạo Chúa.
Phần chúng ta, qua bí tích rửa tội, chúng ta đã trở nên thần dân của Chúa Kitô; cho nên sứ mạng của chúng ta cũng phải là phục vụ và làm chứng cho sự thật. Khi sống như thế, chúng ta sẽ phải chịu nhiều thiệt thòi thậm chí là thiệt mạng. Tuy nhiên, chỉ khi sống như thế, thì vương quốc sự thật của Chúa Kito mới ngày càng lan rộng; chỉ khi sống như thế thì trong ngày tận thế, chúng ta mới xứng đáng được Đức Vua Kitô ngự đến trong vinh quang đón đưa chúng ta vào vương quốc sự thật vĩnh cửu của Ngài. Amen.
Thành Tiến
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thành Tiến. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thành Tiến. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Bảy, 21 tháng 11, 2009
Thứ Năm, 5 tháng 11, 2009
Bài giảng CN-XXXII-TN-B (Thành Tiến)
QUẢNG ĐẠI DÂNG HIẾN1V. 17, 10-16; Dt. 9, 24-28; Mc. 12, 38-44
I. LỜI ĐẦU LỄ
Kính thưa quý OBACE,
Hôm nay, CN-XXXII-TN, lời Chúa mời gọi chúng ta sống tinh thần quảng đại theo gương hai bà góa.
Hình ảnh “Hũ bột không cạn, bình dầu không vơi” cho chúng ta cảm nhận tình thương của Thiên Chúa luôn lớn hơn lòng quảng đại của con người. Nói cách khác: khi con người càng biết cho đi thì càng được Thiên Chúa ban lại gấp bội.
Tham dự thánh lễ hôm nay, xin cho chúng ta biết rộng tay cho tha nhân hầu nhận được muôn vàn ân sủng của Thiên Chúa.
II. GIẢNG
Kính thưa quý OBACE,
[Hồi tôi còn làm ‘thầy chú’ ở nhà thờ khu Gia Viên, tôi đã từng chứng kiến và cảm nhận đời sống khó khăn và lòng quảng đại của các bà góa. Rất nhiều lần, tôi đã nhận được từ các bà góa đi chợ về, ghé nhà xứ, cho tôi một nắm xôi, chai nước mắm hay mấy con tôm khô để nấu canh. Khi vị chủ chăn của giáo phận [là đức Cha cố Phaolo Maria] mời gọi đóng góp cho công cuộc truyền giáo hay nuôi dưỡng các cha cố đã nghỉ hưu, các bà đã về nhà đưa tới cho cha xứ số tiền -dù ít ỏi- đã dành dụm được. Tích tiểu thành đại, nhiều người quảng đại góp lại, số tiền mà giáo xứ Gia Viên gửi lên TGM không kém gì những xứ lớn và giàu có bên cạnh. (N.B: tùy nghi sử dụng câu chuyện thích hợp].
Lời Chúa hôm nay kể cho chúng ta nghe về hai bà góa. Cả hai khác nhau về không gian và thời gian, nhưng lại có chung một điều là dám sẵn sàng hi sinh những gì cần thiết nhất của mình để quảng đại hiến dâng giúp cho người của Chúa và công việc nhà Chúa.
Thật vậy, bài đọc thứ nhất trích sách Các Vua cho biết vì thời tiết hạn hán mất mùa, dân chúng đang phải sống trong cảnh lầm than vất vả. Điều này đã được chính bà goá Sarepta mô tả cho tiên tri Elia: “Có Chúa là Thiên Chúa hằng sống chứng kiến : Tôi chỉ còn một ít bột và ít dầu. Tôi sẽ đi kiếm một ít củi để làm bánh ăn và rồi chết”. Ay vậy mà khi Êlia -vị tiên tri của Chúa- ngỏ lời xin giúp đỡ, bà đã không tiếc chút bánh và bột ít ỏi còn lại hầu có thể kéo dài sự sống cho bà và con trai, mà lại dùng tất cả để lo một bữa ăn cho vị tiên tri hầu ông có thể lên đường thực thi ý Chúa.
Cũng vậy, bà goá nghèo trong bài Tin Mừng cũng tỏ ra hào hiệp không kém. Trong lúc những người giàu có bỏ rất nhiều tiền vào thùng dâng cúng để tu bổ đền thờ, thì bà goá nghèo lại âm thầm dâng cho Chúa những đồng xu nhỏ bé của mình.
Dưới mắt người đời, việc làm của bà chẳng dám đem ra so sánh với ai; hai đồng xu bà góp cũng chẳng bõ bèn gì so với công trình nguy nga của đền thờ.
Hành động của bà, tuy âm thầm nhỏ bé nhưng không lọt ngoài sự chăm chú quan sát của Chúa Giêsu. Chúa khen bà là người đã bỏ vào hòm tiền nhiều nhất; lý do được Chúa Giêsu cho biết; đó là: “Tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa, còn bà đang túng thiếu, vậy mà đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi thân [mà hiến dâng cho Thiên Chúa]”.
Kính thưa ông bà anh chị em.
Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta đánh giá người khác qua địa vị, dáng vẻ bên ngoài hay qua số của cải người ta dâng cúng. Thiên Chúa lại nhìn thấu suốt tâm hồn. Cho nên, đối với Chúa -Đấng giàu có vô song- Ngài chỉ cần tấm lòng con người. Vì vậy, số tiền nhiều ít không quan trọng; vấn đề là người ta có sẵn lòng dâng cho Chúa một cách quảng đại và vô vị lợi hay không?
Hơn nữa, theo lẽ tự nhiên, ai cũng muốn dành ưu tiên cho mình; nhất là quyền ưu tiên về sự sống. Cả hai bà góa đều quên sự sống của bản thân để lo lắng cho người của Chúa cũng như cho việc nhà Chúa.
[Có nhiều người -kể cả một số gia đình công giáo- vì sợ con cái làm ảnh hưởng cuộc sống hai vợ chồng; cho nên -khi có thai ngoài ý muốn- đã tìm cách giết luôn đứa con khi nó chưa được sinh ra!]
Vâng, bài học quảng đại của hai bà góa hôm nay mời gọi chúng ta mở rộng lòng mình đối với Chúa và với anh chị em.
Kính thưa quý OBACE, sách TĐCV đưa ra cho chúng ta một châm ngôn sống: “Cho thì có phúc hơn là nhận”. “Hũ bột không cạn và bình dầu không vơi” là hình ảnh tuyệt vời cho thấy lòng quảng đại vô biên của Thiên Chúa. Không chỉ có thế, Thiên Chúa còn ban cho con người Người Con duy nhất của Ngài. Bài đọc 2 trích thư Do thái cho chúng ta biết: Người Con duy nhất ấy đã vì sự sống của con người mà hiến dâng sự sống chính mình. Ngài đã dâng lễ tế là chính thân mình Ngài một lần, dứt khoát, để hủy diệt tội lỗi và ban cho con người sự sống mới.
- Là Kitô hữu, chúng ta đã lãnh nhận sự sống và muôn vàn ân sủng Chúa ban. Chúng ta có cảm nhận được tình thương của Ngài đã, đang, và không ngừng tuôn đổ trên chúng ta chưa?
- Cả gia đình đang đứng trước nguy cơ chết đói, ấy vậy mà bà góa ở Sarepta đã sẵn sàng dâng phần ăn của gia đình mình cho vị tiên tri. Trong cuộc sống hôm nay, chúng ta có sẵn sàng cho tha nhân không? thường chúng ta cho cái họ cần hay cho cái chúng ta dư thừa?
Ước gì qua lời Chúa hôm nay, chúng ta xác tín Chúa luôn biết rõ tâm hồn chúng ta. Xin cho chúng ta noi gương hai bà góa sẵn sàng quảng đại cho đi; và chúng ta tin rằng Chúa không chỉ sẽ ban cho chúng ta “hũ bột không bao giờ cạn và bình dầu không vơi” là của ăn vật chất mà Ngài -ngay lúc này đây- đang sẵn sàng trao ban cho chúng ta Thánh Thể là Thịt Máu Ngài hầu đảm bảo sự sống đời đời cho chúng ta. Amen.
Thành Tiến
Thứ Bảy, 31 tháng 10, 2009
Bài giảng lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời (Thành Tiến)
LỄ CÁC ĐẲNG LINH HỒN (02.11)
Kính thưa …… quý ông bà anh chị em!
Hôm nay, chúng ta bước vào ngày thứ hai của tháng 11 - tháng mà Giáo Hội dành riêng để tưởng nhớ đến những người quá cố. Là tháng chúng ta có dịp đặc biệt để cầu nguyện, báo hiếu ông bà tổ tiên. (Điều này được thể hiện cụ thể qua việc con cháu đã cầu nguyện, dâng lễ và -trong tuần vừa qua- đã chỉnh trang mộ phần cho ông bà cha mẹ; đã dọn cỏ cho nghĩa trang được sạch sẽ, trang trọng). Đây cũng là thời gian con cháu ôn lại công ơn cao dày của tổ tiên, của các bậc sinh thành để nhắc nhở nhau sống tốt hơn, sống xứng đáng hơn.. Tháng 11 cũng là thời gian Giáo Hội nhắc nhớ chúng ta một khúc quanh quan trọng của cuộc đời mà ai cũng sẽ tới: Đó là giây phút chúng ta từ giã cuộc đời. Từ giã cuộc đời là một từ khó nói hay người ta ít buồn nói đến. Tuy nhiên, nó đã được cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn diễn tả bằng những ca từ rất hay trong một bản nhạc cũng rất nổi tiếng...Một Cõi Đi Về: “bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi. Đi đâu lanh quanh cho đời mỏi mệt. Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt. Dọi suốt trăm năm một cõi đi về…” Đi về đâu vậy, thưa ông bà anh chị em? Đối với Trịnh Công Sơn đi về là trở về với hư vô, với cát bụi. Tư tưởng này đã được ông diễn tả trong lời của một bài hát khác: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi trở về cát bụi…”. Nhưng đối với chúng ta -những người tin vào Đức Kitô- đi về chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp chứ không phải là về với hư không, là đi vào cõi tiêu diệt. Đi về chỉ là một khúc quanh để bước vào đới sống mới, đời sống vĩnh cửu.
Vậy đâu là niềm tin và hy vọng của chúng ta? Kính thưa quý ông bà anh chị em! TC là nguồn sự sống, là Đấng ban sự sống, Đấng tái tạo và phục hồi sự sống. Khi tạo dựng con người từ bùn đất, Ngài đã thổi hơi vào lỗ mũa cho nó có sự sống. Và khi con người phạm tội đánh mất sự sống thì Đức Giêsu -Ngôi Lời Hằng Sống- đã đến trần gian để tái tạo, phục hồi sự sống cho con người. Thật vậy, cùng với lời rao giảng Tin mừng sự sống, Đức Giêsu đã thực hiện nhiều phép lạ chữa lành bệnh hoạn tật nguyền cho người ta. Các sách phúc âm còn thuật lại nhiều lần Ngài cho kẻ chết sống lại: Đó là con gái ông Giairô, con trai bà góa thành Naim, và Lazarô em của Martha (Tin mừng chúng ta vừa nghe). Tất cả đều minh chứng rằng: Ngài được sai đến trần gian để ban sự sống. Ngài là Đấng đến để người ta được sống và sống dồi dào (x. Ga 10, 10).
Hơn thế nữa, niềm hy vọng của chúng ta vào sống lại còn được xác tín mạnh mẽ nơi chính sự Phục sinh của Chúa Giêsu. Đây là 1 bảo đảm, là nguồn hy vọng cậy trông cho những kẻ đã an giấc, cho tất cả chúng ta -những người đã chịu phép rửa trong Chúa Kitô- như lời thánh Phaolo xác tín trong thư gửi tín hữu Roma: "Anh em không biết rằng: khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Giêsu Kitô thì chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao? Nếu chúng ta cùng chết với Đức Kitô thì chúng ta cùng sống với Người (Rm 6, 3.8). Như thế, chúng ta tràn đầy niềm hy vọng vào sự sống lại và chúng ta cũng hy vọng: ông bà tổ tiên, những người thân yêu của chúng ta đã an nghỉ trong Chúa Kitô sẽ được Chúa cho chỗi dậy từ cõi chết để bước vào đời sống mới, đời sống vĩnh cửu. Vì thật vậy: "Gieo xuống thì hư hoại, chỗi dậy thì bất diệt. Gieo xuống thì hèn hạ, chỗi dậy thì mạnh mẽ" (I Cr.15,42-43).
Hiệp dâng Thánh lễ hôm nay, chúng ta tưởng nhớ, cầu nguyện cho ông bà tổ tiên, cho những người thân yêu của chúng ta, đồng thời để cảm nghiệm sâu xa hơn Tình Yêu thương của TC, Tình yêu của Đấng ban sự sống và làm cho sống lại. Ước gì niềm tin vào sự sống đời sau -niềm tin mà chúng ta vẫn hằng tuyên xưng trong kinh tin kính- niềm tin đã quy tụ chúng ta tại đất thánh đây- giúp chúng ta sống cuộc đời này một cách tích cực và ý nghĩa hơn. Amen.
Kính thưa …… quý ông bà anh chị em!
Hôm nay, chúng ta bước vào ngày thứ hai của tháng 11 - tháng mà Giáo Hội dành riêng để tưởng nhớ đến những người quá cố. Là tháng chúng ta có dịp đặc biệt để cầu nguyện, báo hiếu ông bà tổ tiên. (Điều này được thể hiện cụ thể qua việc con cháu đã cầu nguyện, dâng lễ và -trong tuần vừa qua- đã chỉnh trang mộ phần cho ông bà cha mẹ; đã dọn cỏ cho nghĩa trang được sạch sẽ, trang trọng). Đây cũng là thời gian con cháu ôn lại công ơn cao dày của tổ tiên, của các bậc sinh thành để nhắc nhở nhau sống tốt hơn, sống xứng đáng hơn.. Tháng 11 cũng là thời gian Giáo Hội nhắc nhớ chúng ta một khúc quanh quan trọng của cuộc đời mà ai cũng sẽ tới: Đó là giây phút chúng ta từ giã cuộc đời. Từ giã cuộc đời là một từ khó nói hay người ta ít buồn nói đến. Tuy nhiên, nó đã được cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn diễn tả bằng những ca từ rất hay trong một bản nhạc cũng rất nổi tiếng...Một Cõi Đi Về: “bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi. Đi đâu lanh quanh cho đời mỏi mệt. Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt. Dọi suốt trăm năm một cõi đi về…” Đi về đâu vậy, thưa ông bà anh chị em? Đối với Trịnh Công Sơn đi về là trở về với hư vô, với cát bụi. Tư tưởng này đã được ông diễn tả trong lời của một bài hát khác: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi trở về cát bụi…”. Nhưng đối với chúng ta -những người tin vào Đức Kitô- đi về chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp chứ không phải là về với hư không, là đi vào cõi tiêu diệt. Đi về chỉ là một khúc quanh để bước vào đới sống mới, đời sống vĩnh cửu.
Vậy đâu là niềm tin và hy vọng của chúng ta? Kính thưa quý ông bà anh chị em! TC là nguồn sự sống, là Đấng ban sự sống, Đấng tái tạo và phục hồi sự sống. Khi tạo dựng con người từ bùn đất, Ngài đã thổi hơi vào lỗ mũa cho nó có sự sống. Và khi con người phạm tội đánh mất sự sống thì Đức Giêsu -Ngôi Lời Hằng Sống- đã đến trần gian để tái tạo, phục hồi sự sống cho con người. Thật vậy, cùng với lời rao giảng Tin mừng sự sống, Đức Giêsu đã thực hiện nhiều phép lạ chữa lành bệnh hoạn tật nguyền cho người ta. Các sách phúc âm còn thuật lại nhiều lần Ngài cho kẻ chết sống lại: Đó là con gái ông Giairô, con trai bà góa thành Naim, và Lazarô em của Martha (Tin mừng chúng ta vừa nghe). Tất cả đều minh chứng rằng: Ngài được sai đến trần gian để ban sự sống. Ngài là Đấng đến để người ta được sống và sống dồi dào (x. Ga 10, 10).
Hơn thế nữa, niềm hy vọng của chúng ta vào sống lại còn được xác tín mạnh mẽ nơi chính sự Phục sinh của Chúa Giêsu. Đây là 1 bảo đảm, là nguồn hy vọng cậy trông cho những kẻ đã an giấc, cho tất cả chúng ta -những người đã chịu phép rửa trong Chúa Kitô- như lời thánh Phaolo xác tín trong thư gửi tín hữu Roma: "Anh em không biết rằng: khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Giêsu Kitô thì chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao? Nếu chúng ta cùng chết với Đức Kitô thì chúng ta cùng sống với Người (Rm 6, 3.8). Như thế, chúng ta tràn đầy niềm hy vọng vào sự sống lại và chúng ta cũng hy vọng: ông bà tổ tiên, những người thân yêu của chúng ta đã an nghỉ trong Chúa Kitô sẽ được Chúa cho chỗi dậy từ cõi chết để bước vào đời sống mới, đời sống vĩnh cửu. Vì thật vậy: "Gieo xuống thì hư hoại, chỗi dậy thì bất diệt. Gieo xuống thì hèn hạ, chỗi dậy thì mạnh mẽ" (I Cr.15,42-43).
Hiệp dâng Thánh lễ hôm nay, chúng ta tưởng nhớ, cầu nguyện cho ông bà tổ tiên, cho những người thân yêu của chúng ta, đồng thời để cảm nghiệm sâu xa hơn Tình Yêu thương của TC, Tình yêu của Đấng ban sự sống và làm cho sống lại. Ước gì niềm tin vào sự sống đời sau -niềm tin mà chúng ta vẫn hằng tuyên xưng trong kinh tin kính- niềm tin đã quy tụ chúng ta tại đất thánh đây- giúp chúng ta sống cuộc đời này một cách tích cực và ý nghĩa hơn. Amen.
Bài giảng lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời (Thành Tiến)
02.11- các đẳng linh hồn
CẦU NGUYỆN CHO NHỮNG NGƯỜI ĐÃ QUA ĐỜI
I. LỜI ĐẦU LỄ
Kính thưa quý OBACE,Hôm qua, chúng ta đã mừng lễ các thánh, nghĩa là mừng những người đã trải qua thanh luyện, và đã khải hoàn vinh quang thiên quốc.
Hôm nay, chúng ta nhớ và cầu nguyện cho các linh hồn trong luyện tội. Trong đó, có tổ tiên, ông bà, cha mẹ, những người thân yêu của chúng ta và mọi tín hữu đã qua đời. Các ngài đang phải chịu thanh tẩy và rất cần đến lời cầu nguyện của chúng ta.
Tham dự thánh lễ hôm nay, chúng ta ghi nhớ công ơn của các vị tiền nhân; chúng ta cũng cầu nguyện, nài xin Chúa tha thứ, giảm những hình phạt các ngài phải chịu do thiếu sót, lỗi lầm khi còn sống để các ngài được mau chóng vào hưởng hạnh phúc trong nước Chúa.
II. GIẢNG
Kính thưa quý OBACE,Hôm nay, chúng ta hiệp dâng thánh lễ cầu nguyện cho những người tín hữu đã qua đời; trong đó có thể là cha mẹ, bà con họ hàng những người thân yêu của chúng ta đã an nghỉ; mà -vì những lỗi lầm thiếu sót khi còn sống- đang còn phải đang thanh luyện trong luyện ngục.Nói tới luyện ngục, hẳn chúng ta không khỏi có những cảm nghĩ vui buồn lẫn lộn. Vui vì người vào đó sớm muộn gì rồi cũng sẽ có ngày ra. Buồn vì các tín hữu; cách riêng những người thân yêu của chúng ta đã qua đời đang phải chịu nhiều đau khổ?
Hiểu như vậy để chúng ta gia tăng cầu nguyện cho các ngài.Ngay từ xa xưa, Giáo Hội vẫn tin rằng những người đã chết trong tình trạng ơn nghĩa cùng Chúa, nhưng còn vướng mắc những tội nhẹ, hay chưa đền bù hết những hình phạt tạm bởi tội, sẽ phải vào luyện ngục đền bù cho xong, rồi mới được lên thiên đàng, hưởng hạnh phúc muôn đời cùng Chúa.
Cựu Ước đã đề cập tới luyện ngục khi ghi lại hành động cao đẹp của ông Macabêô. Sau cuộc chiến, ông đã quyên tiền gửi về Giêrusalem để dâng của lễ xóa tội cho một số anh em binh lính đã chết, mà lúc còn sống đã mang trong mình những ảnh tượng ngẫu thần, là điều mà lề luật Do Thái ngăn cấm.Chúa Giêsu trong Tin Mừng cũng đã nói về luyện ngục:- Hãy liệu làm hòa với kẻ thù ngay lúc còn đi dọc đường với nó, kẻo kẻ thù sẽ đưa ngươi ra trước mặt quan tòa, quan tòa lại trao ngươi cho tên lính canh và ngươi sẽ bị tống vào ngục. Ta bảo thật cho ngươi biết: ngươi sẽ không thoát khỏi nơi ấy cho đến khi trả hết đồng xu cuối cùng (Mt 5,25).
Ra khỏi đó, là ra khỏi luyện ngục. Tuy nhiên, việc ra khỏi luyện ngục lâu hay mau, còn tùy thuộc vào thời gian đền bù. Thật vậy, đối với người chết trong tình trạng mất ân sủng, nghĩa là phạm tội trọng mà không kịp ăn năn thì đời đời phải trầm luân trong hỏa ngục. [xuống hỏa ngục rồi thì “botay.com!” không còn cơ hội hưởng kiến tôn nhan Chúa; bao nhiêu thánh lễ hay kinh nguyện cũng ra vô ích!]. Người nào khi còn sống phạm tội nhẹ mà chưa đền bù cho đủ thì sẽ được thanh luyện trong luyện ngục; ai phạm tội trọng nhưng đã xưng tội hay thực tình ăn năn thì tội trọng đó đã được tha, án phạt trầm luân đời đỡi đã được xóa bỏ, nhưng hình phạt tạm, nếu chưa lập công đức hay đền bù đủ ở đời này thì phải đền đời trong luyện ngục.Những linh hồn trong luyện ngục phải chịu đau khổ, nhưng không còn lập được công như khi còn sống ở trần gian, bởi vì thời gian lập công đã hết. Các ngài phải chịu đau khổ, nhưng lại không thể tự cứu lấy mình được. Các ngài phải ở đó cho tới khi “trả hết đồng xu cuối cùng”.
Do đó, trong mầu nhiệm các thánh thông công, các linh hồn rất cần lời cầu nguyện của người còn sống. Những người còn đang sống có thể dâng lời kinh, hy sinh, thánh lễ, hay ân xá để xin Chúa thứ tha, sớm giải thoát những linh hồn nơi luyện ngục. Những linh hồn đó có thể có ông bà, cha mẹ, anh chị em, họ hàng, bạn hữu của chúng ta. Thế nhưng, để lãnh nhận ân xá chuyển cầu cho các linh hồn, trước hết, Giáo Hội mời gọi chúng ta hãy cố gắng cải thiện đời sống, xa tránh tội lỗi, thực thi những việc bác ái yêu thương, giữ các điều kiện thông thường để lãnh nhận ân xá chỉ cho các linh hồn nơi luyện ngục. Đó vừa là cách chúng ta đền ơn, đáp nghĩa những người đã qua đời vừa là cách thức lập công để chính bản thân chúng ta cũng được giảm bớt thời gian thanh luyện sau khi chết.
Và đó cũng chính là ý nghĩa của thánh lễ hôm nay. Amen.
CẦU NGUYỆN CHO NHỮNG NGƯỜI ĐÃ QUA ĐỜI
I. LỜI ĐẦU LỄ
Kính thưa quý OBACE,Hôm qua, chúng ta đã mừng lễ các thánh, nghĩa là mừng những người đã trải qua thanh luyện, và đã khải hoàn vinh quang thiên quốc.
Hôm nay, chúng ta nhớ và cầu nguyện cho các linh hồn trong luyện tội. Trong đó, có tổ tiên, ông bà, cha mẹ, những người thân yêu của chúng ta và mọi tín hữu đã qua đời. Các ngài đang phải chịu thanh tẩy và rất cần đến lời cầu nguyện của chúng ta.
Tham dự thánh lễ hôm nay, chúng ta ghi nhớ công ơn của các vị tiền nhân; chúng ta cũng cầu nguyện, nài xin Chúa tha thứ, giảm những hình phạt các ngài phải chịu do thiếu sót, lỗi lầm khi còn sống để các ngài được mau chóng vào hưởng hạnh phúc trong nước Chúa.
II. GIẢNG
Kính thưa quý OBACE,Hôm nay, chúng ta hiệp dâng thánh lễ cầu nguyện cho những người tín hữu đã qua đời; trong đó có thể là cha mẹ, bà con họ hàng những người thân yêu của chúng ta đã an nghỉ; mà -vì những lỗi lầm thiếu sót khi còn sống- đang còn phải đang thanh luyện trong luyện ngục.Nói tới luyện ngục, hẳn chúng ta không khỏi có những cảm nghĩ vui buồn lẫn lộn. Vui vì người vào đó sớm muộn gì rồi cũng sẽ có ngày ra. Buồn vì các tín hữu; cách riêng những người thân yêu của chúng ta đã qua đời đang phải chịu nhiều đau khổ?
Hiểu như vậy để chúng ta gia tăng cầu nguyện cho các ngài.Ngay từ xa xưa, Giáo Hội vẫn tin rằng những người đã chết trong tình trạng ơn nghĩa cùng Chúa, nhưng còn vướng mắc những tội nhẹ, hay chưa đền bù hết những hình phạt tạm bởi tội, sẽ phải vào luyện ngục đền bù cho xong, rồi mới được lên thiên đàng, hưởng hạnh phúc muôn đời cùng Chúa.
Cựu Ước đã đề cập tới luyện ngục khi ghi lại hành động cao đẹp của ông Macabêô. Sau cuộc chiến, ông đã quyên tiền gửi về Giêrusalem để dâng của lễ xóa tội cho một số anh em binh lính đã chết, mà lúc còn sống đã mang trong mình những ảnh tượng ngẫu thần, là điều mà lề luật Do Thái ngăn cấm.Chúa Giêsu trong Tin Mừng cũng đã nói về luyện ngục:- Hãy liệu làm hòa với kẻ thù ngay lúc còn đi dọc đường với nó, kẻo kẻ thù sẽ đưa ngươi ra trước mặt quan tòa, quan tòa lại trao ngươi cho tên lính canh và ngươi sẽ bị tống vào ngục. Ta bảo thật cho ngươi biết: ngươi sẽ không thoát khỏi nơi ấy cho đến khi trả hết đồng xu cuối cùng (Mt 5,25).
Ra khỏi đó, là ra khỏi luyện ngục. Tuy nhiên, việc ra khỏi luyện ngục lâu hay mau, còn tùy thuộc vào thời gian đền bù. Thật vậy, đối với người chết trong tình trạng mất ân sủng, nghĩa là phạm tội trọng mà không kịp ăn năn thì đời đời phải trầm luân trong hỏa ngục. [xuống hỏa ngục rồi thì “botay.com!” không còn cơ hội hưởng kiến tôn nhan Chúa; bao nhiêu thánh lễ hay kinh nguyện cũng ra vô ích!]. Người nào khi còn sống phạm tội nhẹ mà chưa đền bù cho đủ thì sẽ được thanh luyện trong luyện ngục; ai phạm tội trọng nhưng đã xưng tội hay thực tình ăn năn thì tội trọng đó đã được tha, án phạt trầm luân đời đỡi đã được xóa bỏ, nhưng hình phạt tạm, nếu chưa lập công đức hay đền bù đủ ở đời này thì phải đền đời trong luyện ngục.Những linh hồn trong luyện ngục phải chịu đau khổ, nhưng không còn lập được công như khi còn sống ở trần gian, bởi vì thời gian lập công đã hết. Các ngài phải chịu đau khổ, nhưng lại không thể tự cứu lấy mình được. Các ngài phải ở đó cho tới khi “trả hết đồng xu cuối cùng”.
Do đó, trong mầu nhiệm các thánh thông công, các linh hồn rất cần lời cầu nguyện của người còn sống. Những người còn đang sống có thể dâng lời kinh, hy sinh, thánh lễ, hay ân xá để xin Chúa thứ tha, sớm giải thoát những linh hồn nơi luyện ngục. Những linh hồn đó có thể có ông bà, cha mẹ, anh chị em, họ hàng, bạn hữu của chúng ta. Thế nhưng, để lãnh nhận ân xá chuyển cầu cho các linh hồn, trước hết, Giáo Hội mời gọi chúng ta hãy cố gắng cải thiện đời sống, xa tránh tội lỗi, thực thi những việc bác ái yêu thương, giữ các điều kiện thông thường để lãnh nhận ân xá chỉ cho các linh hồn nơi luyện ngục. Đó vừa là cách chúng ta đền ơn, đáp nghĩa những người đã qua đời vừa là cách thức lập công để chính bản thân chúng ta cũng được giảm bớt thời gian thanh luyện sau khi chết.
Và đó cũng chính là ý nghĩa của thánh lễ hôm nay. Amen.
Bài giảng lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời (Thành Tiến)
02.11- CẦU NGUYỆN CHO NHỮNG NGƯỜI ĐÃ QUA ĐỜI
I. LỜI ĐẦU LỄ
Kính thưa quý OBACE,
Hôm qua, chúng ta đã mừng lễ các thánh, nghĩa là mừng những người đã trải qua thanh luyện, và đã khải hoàn vinh quang thiên quốc.
Hôm nay, chúng ta nhớ và cầu nguyện cho các linh hồn trong luyện tội. Trong đó, có tổ tiên, ông bà, cha mẹ, những người thân yêu của chúng ta và mọi tín hữu đã qua đời. Các ngài đang phải chịu thanh tẩy và rất cần đến lời cầu nguyện của chúng ta.
Tham dự thánh lễ hôm nay, chúng ta ghi nhớ công ơn của các vị tiền nhân; chúng ta cũng cầu nguyện, nài xin Chúa tha thứ, giảm những hình phạt các ngài phải chịu do thiếu sót, lỗi lầm khi còn sống để các ngài được mau chóng vào hưởng hạnh phúc trong nước Chúa.
II. GIẢNG
Kính thưa quý OBACE,
Thánh lễ chúng ta mừng hôm nay làm nổi bật tín điều các thánh thông công. Nếu hôm qua chúng ta mừng kính các thánh trên trời, thì hôm nay, chúng ta -những người còn tại thế- dâng lễ cầu nguyện cho các linh hồn trong luyện ngục.
Vậy luyện ngục là gì? Tại sao có luyện ngục?
Hai chữ luyện ngục gợi cho chúng ta biết đó là nơi đau khổ, đền bù và thanh luyện. Luyện ngục thường được diễn tả qua hình ảnh lò lửa rực cháy, thiêu đốt các linh hồn. Nhìn hình ảnh đó, nhiều người cho rằng: Hình phạt luyện ngục trái ngược với lòng nhân từ và thương xót của Chúa. Ngài là Đấng nhân từ sẽ tha thứ cho chúng ta một cách nhưng không, mà chẳng cần phải đền bù thanh luyện chi cả.Thật ra, Thiên Chúa là Đấng nhân từ nhưng cũng là Đấng rất mực công minh. Tác giả Thánh vịnh 118 đã viết: “Thiên Chúa thật công bằng và phán quyết của Ngài thật ngay thẳng”.
Chính Chúa Giêsu cũng đã xác quyết: “Ngươi sẽ không ra khỏi đó cho đến khi trả hết đồng xu cuối cùng”.Các nhà tu đức cho rằng: các linh hồn đều cảm nhận sự bất xứng của bản thân trước tôn nhan Chúa; cho nên, các ngài cũng mong mỏi được thanh luyện hầu xứng đáng hơn để diện kiến Thiên Chúa đời đời.
Hơn nữa, luyện ngục tuy đau khổ nhưng là đau khổ tràn đầy hy vọng. Đau khổ: vì có thể nói hình phạt ở luyện ngục cũng ‘nóng’ như hình phạt ở hỏa ngục; Hy vọng: vì luyện ngục thì chỉ là hình phạt tạm thời, còn ở hỏa ngục thì vĩnh viễn; và phải đời đời xa cách Chúa.Hay nói một các khác:
Các linh hồn trong luyện tội đau khổ vì phải chịu ‘nung nấu’ và phải tạm thời xa cách Chúa. Nhưng đồng thời cũng hy vọng vì một ngày kia, họ sẽ được nhìn ngắm tôn nhan Chúa, mặt đối mặt.
Như thế, lòng thương xót và sự công bằng của Thiên Chúa thoạt xem ra như tương phản, nhưng lại vô cùng hòa hợp với nhau.Thực vậy, trong khi sự công bằng đòi phải đền bù và thanh luyện, thì lòng thương xót Chúa lại đưa ra những phương tiện, những cách thức giúp đỡ để các linh hồn được rút ngắn thời gian đau khổ. Điều này làm nên ý nghĩa của mầu nhiệm hiệp thông, hay mầu nhiệm các thánh thông công.
Trong ý nghĩa đó, cầu nguyện cho những người đã qua đời vừa thể hiện chữ hiếu, chữ tình vừa làm nên giá trị hiệp thông tương trợ.Chính vì vậy mà Thiên Chúa nhân từ -qua Giáo Hội- đã mở kho tàng ơn cứu rỗi là kinh nguyện, thánh lễ, ân xá để chúng ta -những người còn sống- hiệp thông chuyển cầu cho các linh hồn trong luyện tội.
Cũng xin được nhắc lại điều kiện để lãnh ơn toàn xá trong những ngày đầu tiên của tháng 11 này:
1. Từ trưa ngày lễ các thánh đến nửa đêm ngày cầu cho các tín hữu đã qua đời, ai viếng nhà thờ, nhà nguyện, đọc 1 kinh lạy cha, một kinh tin kính, thì được hưởng một ơn đại xá, với những điều kiện theo thường lệ (xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng) nhưng phải nhường lại cho các linh hồn. Mỗi ngày được hưởng một lần mà thôi. Ai bị ngăn trở, có thể viếng nhà thờ, nhà nguyện, lãnh ơn đại xá vào Chúa nhật trước hay Chúa nhật sau.
2. Từ ngày 01-08/11 này, các tín hữu thành kính đi viếng nghĩa trang, và dù có cầu nguyện thầm cho các linh hồn, thì cũng được hưởng một ơn đại xá, với những điều kiện theo thường lệ (xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng) nhưng phải nhường lại cho các linh hồn (trong 8 ngày, mỗi ngày được hưởng một lần mà thôi).3. Các ngày khác trong năm, khi đi viếng nghĩa địa và cầu nguyện cho các linh hồn, thì được hưởng nhờ ơn tiểu xá (Ench. Indulg., ấn bản 1999, concessio 29)Vậy, ân xá là gì? Ân xá là tha những hình phạt tạm do tội gây nên, dù tội đã được tha. Muốn hưởng nhờ ân xá, người Kitô hữu phải hội đủ điều kiện và thi hành những điều Hội Thánh quy định. [Với tư cách là trung gian phân phát ơn cứu chuộc, Hội thánh dùng quyền để ban phát và áp dụng kho tàng công phúc của Đức Kitô và các thánh].
Ơn Đại xá hay toàn xá là ơn tha toàn bộ hình phạt tạm.
Ơn tiểu xá là tha một phần hình phạt tạm. Mọi tín hữu đều có thể hưởng ân xá, hoặc nhường cho người qua đời. (GLCG số 1471).
Như thế, có thể nói nếu một linh hồn được hưởng trọn một ơn đại xá thì lập tức được lên thiên đàng; còn nhận một ơn tiểu xá thì được giảm hình phạt và được sớm hưởng kiến tôn nhan Chúa. Hiểu về luyện tội và ân xá như thế, chúng ta biết rằng -trong mầu nhiệm các thánh thông công- các linh hồn đang rất cần lời cầu nguyện và ơn lành của chúng ta.
Xin cho chúng ta báo hiếu ông bà tổ tiên, những người thân yêu và mọi tín hữu đã qua đời bằng việc dọn mình xưng tội, lãnh nhận ân xá chuyển cho các ngài; và như thế, khi về nước trời, các ngài lại phù trợ và cầu bầu đặc lực cho chúng ta trước tòa uy linh Thiên Chúa. Amen.
Thành Tiến
I. LỜI ĐẦU LỄ
Kính thưa quý OBACE,
Hôm qua, chúng ta đã mừng lễ các thánh, nghĩa là mừng những người đã trải qua thanh luyện, và đã khải hoàn vinh quang thiên quốc.
Hôm nay, chúng ta nhớ và cầu nguyện cho các linh hồn trong luyện tội. Trong đó, có tổ tiên, ông bà, cha mẹ, những người thân yêu của chúng ta và mọi tín hữu đã qua đời. Các ngài đang phải chịu thanh tẩy và rất cần đến lời cầu nguyện của chúng ta.
Tham dự thánh lễ hôm nay, chúng ta ghi nhớ công ơn của các vị tiền nhân; chúng ta cũng cầu nguyện, nài xin Chúa tha thứ, giảm những hình phạt các ngài phải chịu do thiếu sót, lỗi lầm khi còn sống để các ngài được mau chóng vào hưởng hạnh phúc trong nước Chúa.
II. GIẢNG
Kính thưa quý OBACE,
Thánh lễ chúng ta mừng hôm nay làm nổi bật tín điều các thánh thông công. Nếu hôm qua chúng ta mừng kính các thánh trên trời, thì hôm nay, chúng ta -những người còn tại thế- dâng lễ cầu nguyện cho các linh hồn trong luyện ngục.
Vậy luyện ngục là gì? Tại sao có luyện ngục?
Hai chữ luyện ngục gợi cho chúng ta biết đó là nơi đau khổ, đền bù và thanh luyện. Luyện ngục thường được diễn tả qua hình ảnh lò lửa rực cháy, thiêu đốt các linh hồn. Nhìn hình ảnh đó, nhiều người cho rằng: Hình phạt luyện ngục trái ngược với lòng nhân từ và thương xót của Chúa. Ngài là Đấng nhân từ sẽ tha thứ cho chúng ta một cách nhưng không, mà chẳng cần phải đền bù thanh luyện chi cả.Thật ra, Thiên Chúa là Đấng nhân từ nhưng cũng là Đấng rất mực công minh. Tác giả Thánh vịnh 118 đã viết: “Thiên Chúa thật công bằng và phán quyết của Ngài thật ngay thẳng”.
Chính Chúa Giêsu cũng đã xác quyết: “Ngươi sẽ không ra khỏi đó cho đến khi trả hết đồng xu cuối cùng”.Các nhà tu đức cho rằng: các linh hồn đều cảm nhận sự bất xứng của bản thân trước tôn nhan Chúa; cho nên, các ngài cũng mong mỏi được thanh luyện hầu xứng đáng hơn để diện kiến Thiên Chúa đời đời.
Hơn nữa, luyện ngục tuy đau khổ nhưng là đau khổ tràn đầy hy vọng. Đau khổ: vì có thể nói hình phạt ở luyện ngục cũng ‘nóng’ như hình phạt ở hỏa ngục; Hy vọng: vì luyện ngục thì chỉ là hình phạt tạm thời, còn ở hỏa ngục thì vĩnh viễn; và phải đời đời xa cách Chúa.Hay nói một các khác:
Các linh hồn trong luyện tội đau khổ vì phải chịu ‘nung nấu’ và phải tạm thời xa cách Chúa. Nhưng đồng thời cũng hy vọng vì một ngày kia, họ sẽ được nhìn ngắm tôn nhan Chúa, mặt đối mặt.
Như thế, lòng thương xót và sự công bằng của Thiên Chúa thoạt xem ra như tương phản, nhưng lại vô cùng hòa hợp với nhau.Thực vậy, trong khi sự công bằng đòi phải đền bù và thanh luyện, thì lòng thương xót Chúa lại đưa ra những phương tiện, những cách thức giúp đỡ để các linh hồn được rút ngắn thời gian đau khổ. Điều này làm nên ý nghĩa của mầu nhiệm hiệp thông, hay mầu nhiệm các thánh thông công.
Trong ý nghĩa đó, cầu nguyện cho những người đã qua đời vừa thể hiện chữ hiếu, chữ tình vừa làm nên giá trị hiệp thông tương trợ.Chính vì vậy mà Thiên Chúa nhân từ -qua Giáo Hội- đã mở kho tàng ơn cứu rỗi là kinh nguyện, thánh lễ, ân xá để chúng ta -những người còn sống- hiệp thông chuyển cầu cho các linh hồn trong luyện tội.
Cũng xin được nhắc lại điều kiện để lãnh ơn toàn xá trong những ngày đầu tiên của tháng 11 này:
1. Từ trưa ngày lễ các thánh đến nửa đêm ngày cầu cho các tín hữu đã qua đời, ai viếng nhà thờ, nhà nguyện, đọc 1 kinh lạy cha, một kinh tin kính, thì được hưởng một ơn đại xá, với những điều kiện theo thường lệ (xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng) nhưng phải nhường lại cho các linh hồn. Mỗi ngày được hưởng một lần mà thôi. Ai bị ngăn trở, có thể viếng nhà thờ, nhà nguyện, lãnh ơn đại xá vào Chúa nhật trước hay Chúa nhật sau.
2. Từ ngày 01-08/11 này, các tín hữu thành kính đi viếng nghĩa trang, và dù có cầu nguyện thầm cho các linh hồn, thì cũng được hưởng một ơn đại xá, với những điều kiện theo thường lệ (xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng) nhưng phải nhường lại cho các linh hồn (trong 8 ngày, mỗi ngày được hưởng một lần mà thôi).3. Các ngày khác trong năm, khi đi viếng nghĩa địa và cầu nguyện cho các linh hồn, thì được hưởng nhờ ơn tiểu xá (Ench. Indulg., ấn bản 1999, concessio 29)Vậy, ân xá là gì? Ân xá là tha những hình phạt tạm do tội gây nên, dù tội đã được tha. Muốn hưởng nhờ ân xá, người Kitô hữu phải hội đủ điều kiện và thi hành những điều Hội Thánh quy định. [Với tư cách là trung gian phân phát ơn cứu chuộc, Hội thánh dùng quyền để ban phát và áp dụng kho tàng công phúc của Đức Kitô và các thánh].
Ơn Đại xá hay toàn xá là ơn tha toàn bộ hình phạt tạm.
Ơn tiểu xá là tha một phần hình phạt tạm. Mọi tín hữu đều có thể hưởng ân xá, hoặc nhường cho người qua đời. (GLCG số 1471).
Như thế, có thể nói nếu một linh hồn được hưởng trọn một ơn đại xá thì lập tức được lên thiên đàng; còn nhận một ơn tiểu xá thì được giảm hình phạt và được sớm hưởng kiến tôn nhan Chúa. Hiểu về luyện tội và ân xá như thế, chúng ta biết rằng -trong mầu nhiệm các thánh thông công- các linh hồn đang rất cần lời cầu nguyện và ơn lành của chúng ta.
Xin cho chúng ta báo hiếu ông bà tổ tiên, những người thân yêu và mọi tín hữu đã qua đời bằng việc dọn mình xưng tội, lãnh nhận ân xá chuyển cho các ngài; và như thế, khi về nước trời, các ngài lại phù trợ và cầu bầu đặc lực cho chúng ta trước tòa uy linh Thiên Chúa. Amen.
Thành Tiến
Bài giảng Lễ Các Thánh (Thành Tiến)
CÁC THÁNH NAM NỮ
- 01.11Kh 7,2-4.9-14; 1Ga 3,1-3; Mt 5,1-12a
I. LỜI ĐẦU LỄ
Kính thưa quý OBACE,
hôm nay 01.11 ngày đầu tháng các linh hồn, cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng ta mừng lễ trọng kính các thánh nam nữ. Các ngài đã trải qua cuộc sống trần thế, đã khải hoàn và đang hạnh phúc trên thiên quốc và hằng chuyển cầu cùng Chúa cho chúng ta.
Do đó, mừng lễ các thánh là chúng ta tuyên xưng mầu nhiệm các thánh thông công. Chúng ta ca tụng các ngài; đồng thời cũng nhờ các ngài chuyển cầu cho chúng ta trước tòa uy linh Chúa.
II. GIẢNG
Kính thưa quý OBACE,Hôm nay, toàn Giáo Hội mừng lễ các thánh. Vậy, các thánh là ai? và có bao nhiêu vị thánh? Sau 14 năm làm Giáo hoàng, ĐTC Gioan Phaolô II đã tôn phong 553 vị thánh, trong đó có 117 vị thánh tử đạo Việt Nam, 103 vị thánh tử đạo Đại Hàn, 25 vị tử đạo người Mehicô và nhiều vị thuộc các quốc gia khác nữa. Quả thực cho đến nay trong lịch sử Giáo Hội chưa có vị Giáo hoàng nào phong nhiều thánh như thế. Trước tình trạng này, một số nhà thần học cho rằng việc phong thánh trong Giáo Hội đang bị lạm phát và các thánh không còn được trọng kính như trước đây. Thế nhưng dưới ánh sáng của đoạn sách Khải huyền trong thánh lễ hôm nay, lập trường của những nhà thần học này xem ra không chuẩn.
Thật vậy, trong thị kiến về "những kẻ đã được niêm ấn" hiện diện trước ngai của Con Chiên, Thánh Gioan thấy số người đó thật đông đảo: "144 ngàn thuộc mọi chi tộc Israel" và một đoàn người khác đông đảo không thể đếm được thuộc đủ mọi nước, mọi chi họ, mọi dân tộc và mọi thứ tiếng." Tất cả những người đó đều "mặc áo trắng tinh, tay cầm nhành lá thiên tuế" chiến thắng (Kh 7, 2-9). Đoàn người đông đảo không thể đếm được
-dưới cái nhìn của sách khải huyền
- chính là các Thánh Nam Nữ mà chúng ta mừng lễ hôm nay.2000 năm lịch sử Giáo Hội, con số các thánh đã được tuyên phong và ghi tên trong sổ bộ các thánh lên tới 40.000. Tuy nhiên, đó không phải là tất cả các thánh. 40.000 các thánh được tuyên phong chỉ là con số tiêu biểu được nêu lên như mẫu gương cho dân Chúa noi theo, bắt chước; còn vô số các thánh khác “không thể đếm được” như lời sách Khải huyền loan báo. Và con số ấy không ngừng gia tăng mỗi ngày.Vậy chúng ta cần hiểu thế nào về các thánh và sự thánh thiện?
Trong kinh vinh danh, chúng ta tuyên xưng: chỉ mình Thiên Chúa mới là Đấng thánh. Chúng ta là những người phàm; và chúng ta chỉ trở nên thánh khi được Thiên Chúa thánh hóa. Với các nhìn đó, mọi Kitô hữu -qua bí tích thánh tẩy- đều đã được Thiên Chúa thánh hóa. Nhờ bí tích thánh tẩy, người Kitô hữu không chỉ được tẩy xóa mọi tội lỗi mà còn được thông dự vào sự sống, sự thánh thiện của Thiên Chúa nữa. Thánh Phaolo đã không ngần ngại gọi các tín hữu là các thánh. Tuy nhiên, bao lâu còn sống ở trần gian, Kitô hữu chúng ta luôn phải đấu tranh giữa ánh sáng và bóng tối. [Nói cách khác, chúng ta vừa là thánh và vừa là tội nhân nên chúng ta cần phải thanh tẩy bản thân không ngừng.]
Các thánh sở dĩ được tuyên phong là thánh, bởi vì cuộc đời các ngài được coi là tấm gương phản chiếu sự thánh thiện của Thiên Chúa. Các ngài đã “trải qua đau khổ lớn lao, đã giặt áo và tẩy áo nên trắng nhờ máu Con Chiên”. Con Chiên mà thánh Gioan nói đến chính là Đức Kitô. Cho nên, có thể nói: Ai giống Đức Kitô, người ấy trở nên thánh thiện. Ai thực hiện những giá trị Tin mừng, người ấy trở nên thánh. Bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe, thánh Mattheu ghi lại lời Chúa Giêsu công bố những giá trị Tin Mừng ấy.
Như thế, các thánh được mừng kính hôm nay là những người khi còn sống đã biết thực hiện tinh thần hiến chương nước trời hay còn gọi là tám mối phúc thật mà Chúa Giêsu đã dạy (Mt 5,1-12). Đó là nghèo khó, hiền lành, trong sạch, xây dựng hòa bình, chịu nhiều thiệt thòi, đau khổ, bách hại vì sự công chính.
Để sống tinh thần ấy, các ngài đã phải trải qua nhiều chiến đấu, đã phải nỗ lực và biến đổi không ngừng. Nhiều vị đã từng là những người yếu đuối, tội lỗi nhưng biết sám hối trở về với Chúa để được ơn thứ tha. Như thế, thánh thiện không phải là điều gì xa xỉ dành riêng cho một số người trổi vượt nhưng là ơn gọi của mọi Kitô hữu.Với nhãn quan ấy, chúng ta thấy các thánh thật gần gũi chúng ta. Đó là các vị đã được tuyên phong; đó cũng có thể là ông bà tổ tiên, những người thân yêu của chúng ta đã qua đời.
Kính thưa quý OBACE,
Nay người mai ta, tối đa là 100 năm nữa, mọi người chúng ta ở đây sẽ hoàn tất cuộc đời này để trình diện trước tòa Chúa. Rồi theo thời gian, chúng ta trở thành cổ nhân; hậu thế lại nhớ đến chúng ta. Trong danh sách các thánh được ghi trong sổ bộ sau này, hay trong vô vàn các thánh được quây quần trước nhan Thiên Chúa, hy vọng sẽ có chúng ta; vì đó chính là mục đích tối hậu của chúng ta; vấn đề là chúng ta có gắn bó với Chúa Giêsu và thực thi tinh thần tám mối phúc thật mà Ngài đã chỉ dạy hay không?
Thành Tiến
- 01.11Kh 7,2-4.9-14; 1Ga 3,1-3; Mt 5,1-12a
I. LỜI ĐẦU LỄ
Kính thưa quý OBACE,
hôm nay 01.11 ngày đầu tháng các linh hồn, cùng với toàn thể Giáo Hội, chúng ta mừng lễ trọng kính các thánh nam nữ. Các ngài đã trải qua cuộc sống trần thế, đã khải hoàn và đang hạnh phúc trên thiên quốc và hằng chuyển cầu cùng Chúa cho chúng ta.
Do đó, mừng lễ các thánh là chúng ta tuyên xưng mầu nhiệm các thánh thông công. Chúng ta ca tụng các ngài; đồng thời cũng nhờ các ngài chuyển cầu cho chúng ta trước tòa uy linh Chúa.
II. GIẢNG
Kính thưa quý OBACE,Hôm nay, toàn Giáo Hội mừng lễ các thánh. Vậy, các thánh là ai? và có bao nhiêu vị thánh? Sau 14 năm làm Giáo hoàng, ĐTC Gioan Phaolô II đã tôn phong 553 vị thánh, trong đó có 117 vị thánh tử đạo Việt Nam, 103 vị thánh tử đạo Đại Hàn, 25 vị tử đạo người Mehicô và nhiều vị thuộc các quốc gia khác nữa. Quả thực cho đến nay trong lịch sử Giáo Hội chưa có vị Giáo hoàng nào phong nhiều thánh như thế. Trước tình trạng này, một số nhà thần học cho rằng việc phong thánh trong Giáo Hội đang bị lạm phát và các thánh không còn được trọng kính như trước đây. Thế nhưng dưới ánh sáng của đoạn sách Khải huyền trong thánh lễ hôm nay, lập trường của những nhà thần học này xem ra không chuẩn.
Thật vậy, trong thị kiến về "những kẻ đã được niêm ấn" hiện diện trước ngai của Con Chiên, Thánh Gioan thấy số người đó thật đông đảo: "144 ngàn thuộc mọi chi tộc Israel" và một đoàn người khác đông đảo không thể đếm được thuộc đủ mọi nước, mọi chi họ, mọi dân tộc và mọi thứ tiếng." Tất cả những người đó đều "mặc áo trắng tinh, tay cầm nhành lá thiên tuế" chiến thắng (Kh 7, 2-9). Đoàn người đông đảo không thể đếm được
-dưới cái nhìn của sách khải huyền
- chính là các Thánh Nam Nữ mà chúng ta mừng lễ hôm nay.2000 năm lịch sử Giáo Hội, con số các thánh đã được tuyên phong và ghi tên trong sổ bộ các thánh lên tới 40.000. Tuy nhiên, đó không phải là tất cả các thánh. 40.000 các thánh được tuyên phong chỉ là con số tiêu biểu được nêu lên như mẫu gương cho dân Chúa noi theo, bắt chước; còn vô số các thánh khác “không thể đếm được” như lời sách Khải huyền loan báo. Và con số ấy không ngừng gia tăng mỗi ngày.Vậy chúng ta cần hiểu thế nào về các thánh và sự thánh thiện?
Trong kinh vinh danh, chúng ta tuyên xưng: chỉ mình Thiên Chúa mới là Đấng thánh. Chúng ta là những người phàm; và chúng ta chỉ trở nên thánh khi được Thiên Chúa thánh hóa. Với các nhìn đó, mọi Kitô hữu -qua bí tích thánh tẩy- đều đã được Thiên Chúa thánh hóa. Nhờ bí tích thánh tẩy, người Kitô hữu không chỉ được tẩy xóa mọi tội lỗi mà còn được thông dự vào sự sống, sự thánh thiện của Thiên Chúa nữa. Thánh Phaolo đã không ngần ngại gọi các tín hữu là các thánh. Tuy nhiên, bao lâu còn sống ở trần gian, Kitô hữu chúng ta luôn phải đấu tranh giữa ánh sáng và bóng tối. [Nói cách khác, chúng ta vừa là thánh và vừa là tội nhân nên chúng ta cần phải thanh tẩy bản thân không ngừng.]
Các thánh sở dĩ được tuyên phong là thánh, bởi vì cuộc đời các ngài được coi là tấm gương phản chiếu sự thánh thiện của Thiên Chúa. Các ngài đã “trải qua đau khổ lớn lao, đã giặt áo và tẩy áo nên trắng nhờ máu Con Chiên”. Con Chiên mà thánh Gioan nói đến chính là Đức Kitô. Cho nên, có thể nói: Ai giống Đức Kitô, người ấy trở nên thánh thiện. Ai thực hiện những giá trị Tin mừng, người ấy trở nên thánh. Bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe, thánh Mattheu ghi lại lời Chúa Giêsu công bố những giá trị Tin Mừng ấy.
Như thế, các thánh được mừng kính hôm nay là những người khi còn sống đã biết thực hiện tinh thần hiến chương nước trời hay còn gọi là tám mối phúc thật mà Chúa Giêsu đã dạy (Mt 5,1-12). Đó là nghèo khó, hiền lành, trong sạch, xây dựng hòa bình, chịu nhiều thiệt thòi, đau khổ, bách hại vì sự công chính.
Để sống tinh thần ấy, các ngài đã phải trải qua nhiều chiến đấu, đã phải nỗ lực và biến đổi không ngừng. Nhiều vị đã từng là những người yếu đuối, tội lỗi nhưng biết sám hối trở về với Chúa để được ơn thứ tha. Như thế, thánh thiện không phải là điều gì xa xỉ dành riêng cho một số người trổi vượt nhưng là ơn gọi của mọi Kitô hữu.Với nhãn quan ấy, chúng ta thấy các thánh thật gần gũi chúng ta. Đó là các vị đã được tuyên phong; đó cũng có thể là ông bà tổ tiên, những người thân yêu của chúng ta đã qua đời.
Kính thưa quý OBACE,
Nay người mai ta, tối đa là 100 năm nữa, mọi người chúng ta ở đây sẽ hoàn tất cuộc đời này để trình diện trước tòa Chúa. Rồi theo thời gian, chúng ta trở thành cổ nhân; hậu thế lại nhớ đến chúng ta. Trong danh sách các thánh được ghi trong sổ bộ sau này, hay trong vô vàn các thánh được quây quần trước nhan Thiên Chúa, hy vọng sẽ có chúng ta; vì đó chính là mục đích tối hậu của chúng ta; vấn đề là chúng ta có gắn bó với Chúa Giêsu và thực thi tinh thần tám mối phúc thật mà Ngài đã chỉ dạy hay không?
Thành Tiến
Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2009
CN-XXX-TN-B
GIẢNG-CN-XXX-TN-B
TRỞ NÊN ĐÈN SÁNGGr 31,7-9; Dt 5,1-6; Mc 10,46-52
I. LỜI ĐẦU LỄ
Kính thưa quý OBACE, hôm nay, CN-XXX-TN, lời Chúa trong Tin Mừng kể cho chúng ta việc Chúa Giêsu chữa một người mù được sáng mắt.
Phần chúng ta, rất có thể chúng ta không mù lòa về mặt thể lý nhưng chắc chắn -ít nhiều- chúng ta đều mù lòa về phần tâm linh.
Tham dự thánh lễ hôm nay, xin cho chúng ta
-noi gương anh mù Bartimê
- biết vượt qua những ‘rào cản’ khách quan từ bên ngoài, nhất là vượt lên chính mình để nài xin Chúa Giêsu cứu chữa chúng ta.
II. GIẢNG
Kính thưa quý OBACE, Ngày nay người ta nói nhiều đến việc mù chữ, các lớp bổ túc văn hóa cũng nhằm xóa đi tình trạng mù chữ. Những năm gần đây -khi Internet phát triển- người ta còn nói ‘không biết sử dụng máy vi tính cũng được kể là mù chữ!’. Nhiều cha già gặp rất nhiều khó khăn trong việc sử dụng máy vi tính [Có cha khiêm nhường nhìn nhận: “cái này thì cha mù tịt!”.] Giống như coi phim tàu chúng ta vẫn nghe nói “Tiểu nhân có mắt như mù, xin quan lớn [hoàng thượng] cứu xét!”. Nhìn nhận như thế thật đáng khâm phục; cho nên người ta bảo: “Mù không sợ cho bằng không nhìn nhận tình trạng mù lòa của mình”. Chúa Giêsu nhiều lần trách những người phariseu cứng tin “Họ có mắt mà như mù; họ nhìn mà không thấy…”. Người mù trong Tin Mừng chúng ta vừa nghe đã can đảm nói lên với Chúa Giêsu tình trạng mù lòa của mình. “Lạy thầy, xin thương xót tôi, xin cho tôi được thấy”. Có một câu chuyện kể như thế này:
Một anh mù đi thăm một người bạn. Đã lâu không gặp nên đôi bạn hàn huyên mãi quên cả thời gian. Khi trời tối mịt thì anh mù mới cáo từ ra về. Anh bạn bảo: “Thôi để tôi thắp cho anh cái đèn, trời tối quá rồi”. Anh mù nghĩ là bạn muốn đùa nên trả lời: “Anh chọc quê tôi hả? Tôi mù thì ngày và đêm có khác gì nhau đâu”. Anh bạn vội vàng xin lỗi nói: “Tôi đâu có dám, ý tôi là anh nên cầm cái đèn để người ta sẽ thấy sáng và không đụng phải anh”. Anh mù nghe nói có lý liền vui vẻ xách đèn ra về. Đi được một đoạn thì có một người đi ngược chiều đụng phải, làm anh mù ngã xuống vệ đường. Quá tức giận, anh ngồi dậy chửi đổng: “Đồ đui, người ta cầm cái đèn sáng như thế này mà không thấy hả?”. Người kia liền mắng lại: “Mày mới là đồ đui, đèn tắt mẹ từ lúc nào mà còn chửi người ta! Nếu đèn mày sáng thì tao đâu có tông vào mày!”. [lồm cồm bò dậy, lần này, anh thắp đèn, che chắn cẩn thận. Aáy vậy mà đi được một quãng, anh lại bị một anh chàng tông vào. Bực quá, anh quát: “Đèn tôi sáng như thế này mà anh còn tông vào tôi sao! Người kia run rẩy trả lời: “Xin lỗi, vì tôi bị mù!”]
Trở lại câu chuyện trong Tin Mừng. Vào thời Chúa Giêsu, tại đất nước Do thái có rất nhiều người mù, nhưng Chúa Giêsu không chữa cho tất cả. Ngài chỉ chữa cho một vài người trong những tình huống cần thiết. Như thế, Chúa Giêsu đến trần gian không nhằm giải thoát con người khỏi tình trạng mù lòa về mặt thể lý hay mù chữ về mặt tri thức nhưng nhằm giải thoát con người khỏi tình trạng mù lòa về mặt tâm linh. Thật vậy, bài Tin Mừng cho thấy, anh mù
-sau khi được Chúa cho sáng mắt
- đã tin và bước theo Đức Giêsu.
Thánh sử Luca còn cho biết thêm: khi chứng kiến việc này, toàn dân cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa. (x. Lc 18, 52).
Kính thưa quý OBACE, Có lẽ chúng ta không bị mù về mặt thể lý nhưng hầu hết chúng ta mù lòa về thiêng liêng. Chúng ta mù lòa nên không nhận ra những người nghèo là hình ảnh của Chúa; chúng ta mù nên không nhận ra Chúa hiện diện trong các bí tích -nhất là bí tích thánh thể- để chúng ta dự lễ và rước lễ cho xứng đáng. Có nhiều người thấy tiền thì sáng mắt nhưng thực ra tâm hồn lại rơi vào tình trạng mù tối; bị đồng tiền che mắt dẫn lối đưa đường, làm những việc phạm pháp, trái với lương tâm...
Khi nhìn nhận như thế, chúng ta mới thấy câu chuyện về anh mù không còn là câu chuyện xa lạ của 20 thế kỷ trước, mà là câu chuyện của mỗi chúng ta hôm nay. Tuy nhiên, Thiên Chúa vẫn đang từng ngày dọi chiếu ánh sáng cứu độ vào cuộc đời chúng ta.
Bài đọc thứ I trích sách tiên tri Gieremia tiên báo cảnh vui mừng khi dân chúng đang ở trong tình trạng tối tăm của kiếp nô lệ được Giavê Thiên Chúa cứu thoát đưa về xứ sở. Bài Tin Mừng, thánh Marco cho biết Chúa Giêsu -Đấng là Sự Sáng- đã đến giải thoát chúng ta khỏi tình trạng mù lòa tăm tối.Nói như thế, vì từ khi nguyên tổ phạm tội, loài người sống trong cảnh tăm tối của tội lỗi. Khi lãnh nhận bí tích rửa tội, Kitô hữu được Chúa dẫn đưa vào nguồn sáng; và điều này được diễn tả qua nghi thức diễn nghĩa. Sau khi rửa tội, người tân tòng được trao cho cây nến sáng thắp từ nến phục sinh. Khi trao nến cho người tân tòng [hay cho người đỡ đầu, nếu người được rửa tội là trẻ nhỏ], thừa tác viên của Giáo Hội kèm theo lời đọc “Con đã trở nên ánh sáng Chúa Kitô. Vậy con hãy luôn sống như con cái sự sáng”. Nghĩa là từ nay, người tân tòng không chỉ được sáng mà còn mang lại ánh sáng cho người khác như lời Kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô Assisi mà chúng ta vẫn hát: “Lạy Chúa từ nhân…, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa,...để con đem yêu thương vào nơi oán thù…
Để con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu”.
Như thế, sứ mạng của người Kitô hữu không chỉ là ‘đem yêu thương vào nơi oán thù’ mà còn phải ‘dọi ánh sáng vào nơi tối tăm’ nữa. Thực tế cho thấy, nhiều Kitô hữu -trong đó có chúng ta- đã để ngọn đèn đức tin của mình tắt ngúm từ lâu hay đèn đã cạn dầu chỉ còn leo lét không đủ sáng.
Vậy, ước gì, qua lời Chúa hôm nay, xin cho chúng ta nhận ra tình trạng tăm tối của mình; để -noi gương anh mù Bartime- khiêm tốn, can đảm kêu xin Chúa cứu chữa. Xin cho chúng ta cũng ý thức bản thân mình -vốn từng nô lệ trong kiếp tội lỗi- đã được Chúa biến đổi trở nên con cái sự sáng để chúng ta biết quyết tâm xa tránh tội lỗi; thánh hóa bản thân không ngừng hầu trở nên đèn sáng soi chiếu vào lòng người và vào thế giới còn nhiều tăm tối hôm nay. Amen.
TRỞ NÊN ĐÈN SÁNGGr 31,7-9; Dt 5,1-6; Mc 10,46-52
I. LỜI ĐẦU LỄ
Kính thưa quý OBACE, hôm nay, CN-XXX-TN, lời Chúa trong Tin Mừng kể cho chúng ta việc Chúa Giêsu chữa một người mù được sáng mắt.
Phần chúng ta, rất có thể chúng ta không mù lòa về mặt thể lý nhưng chắc chắn -ít nhiều- chúng ta đều mù lòa về phần tâm linh.
Tham dự thánh lễ hôm nay, xin cho chúng ta
-noi gương anh mù Bartimê
- biết vượt qua những ‘rào cản’ khách quan từ bên ngoài, nhất là vượt lên chính mình để nài xin Chúa Giêsu cứu chữa chúng ta.
II. GIẢNG
Kính thưa quý OBACE, Ngày nay người ta nói nhiều đến việc mù chữ, các lớp bổ túc văn hóa cũng nhằm xóa đi tình trạng mù chữ. Những năm gần đây -khi Internet phát triển- người ta còn nói ‘không biết sử dụng máy vi tính cũng được kể là mù chữ!’. Nhiều cha già gặp rất nhiều khó khăn trong việc sử dụng máy vi tính [Có cha khiêm nhường nhìn nhận: “cái này thì cha mù tịt!”.] Giống như coi phim tàu chúng ta vẫn nghe nói “Tiểu nhân có mắt như mù, xin quan lớn [hoàng thượng] cứu xét!”. Nhìn nhận như thế thật đáng khâm phục; cho nên người ta bảo: “Mù không sợ cho bằng không nhìn nhận tình trạng mù lòa của mình”. Chúa Giêsu nhiều lần trách những người phariseu cứng tin “Họ có mắt mà như mù; họ nhìn mà không thấy…”. Người mù trong Tin Mừng chúng ta vừa nghe đã can đảm nói lên với Chúa Giêsu tình trạng mù lòa của mình. “Lạy thầy, xin thương xót tôi, xin cho tôi được thấy”. Có một câu chuyện kể như thế này:
Một anh mù đi thăm một người bạn. Đã lâu không gặp nên đôi bạn hàn huyên mãi quên cả thời gian. Khi trời tối mịt thì anh mù mới cáo từ ra về. Anh bạn bảo: “Thôi để tôi thắp cho anh cái đèn, trời tối quá rồi”. Anh mù nghĩ là bạn muốn đùa nên trả lời: “Anh chọc quê tôi hả? Tôi mù thì ngày và đêm có khác gì nhau đâu”. Anh bạn vội vàng xin lỗi nói: “Tôi đâu có dám, ý tôi là anh nên cầm cái đèn để người ta sẽ thấy sáng và không đụng phải anh”. Anh mù nghe nói có lý liền vui vẻ xách đèn ra về. Đi được một đoạn thì có một người đi ngược chiều đụng phải, làm anh mù ngã xuống vệ đường. Quá tức giận, anh ngồi dậy chửi đổng: “Đồ đui, người ta cầm cái đèn sáng như thế này mà không thấy hả?”. Người kia liền mắng lại: “Mày mới là đồ đui, đèn tắt mẹ từ lúc nào mà còn chửi người ta! Nếu đèn mày sáng thì tao đâu có tông vào mày!”. [lồm cồm bò dậy, lần này, anh thắp đèn, che chắn cẩn thận. Aáy vậy mà đi được một quãng, anh lại bị một anh chàng tông vào. Bực quá, anh quát: “Đèn tôi sáng như thế này mà anh còn tông vào tôi sao! Người kia run rẩy trả lời: “Xin lỗi, vì tôi bị mù!”]
Trở lại câu chuyện trong Tin Mừng. Vào thời Chúa Giêsu, tại đất nước Do thái có rất nhiều người mù, nhưng Chúa Giêsu không chữa cho tất cả. Ngài chỉ chữa cho một vài người trong những tình huống cần thiết. Như thế, Chúa Giêsu đến trần gian không nhằm giải thoát con người khỏi tình trạng mù lòa về mặt thể lý hay mù chữ về mặt tri thức nhưng nhằm giải thoát con người khỏi tình trạng mù lòa về mặt tâm linh. Thật vậy, bài Tin Mừng cho thấy, anh mù
-sau khi được Chúa cho sáng mắt
- đã tin và bước theo Đức Giêsu.
Thánh sử Luca còn cho biết thêm: khi chứng kiến việc này, toàn dân cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa. (x. Lc 18, 52).
Kính thưa quý OBACE, Có lẽ chúng ta không bị mù về mặt thể lý nhưng hầu hết chúng ta mù lòa về thiêng liêng. Chúng ta mù lòa nên không nhận ra những người nghèo là hình ảnh của Chúa; chúng ta mù nên không nhận ra Chúa hiện diện trong các bí tích -nhất là bí tích thánh thể- để chúng ta dự lễ và rước lễ cho xứng đáng. Có nhiều người thấy tiền thì sáng mắt nhưng thực ra tâm hồn lại rơi vào tình trạng mù tối; bị đồng tiền che mắt dẫn lối đưa đường, làm những việc phạm pháp, trái với lương tâm...
Khi nhìn nhận như thế, chúng ta mới thấy câu chuyện về anh mù không còn là câu chuyện xa lạ của 20 thế kỷ trước, mà là câu chuyện của mỗi chúng ta hôm nay. Tuy nhiên, Thiên Chúa vẫn đang từng ngày dọi chiếu ánh sáng cứu độ vào cuộc đời chúng ta.
Bài đọc thứ I trích sách tiên tri Gieremia tiên báo cảnh vui mừng khi dân chúng đang ở trong tình trạng tối tăm của kiếp nô lệ được Giavê Thiên Chúa cứu thoát đưa về xứ sở. Bài Tin Mừng, thánh Marco cho biết Chúa Giêsu -Đấng là Sự Sáng- đã đến giải thoát chúng ta khỏi tình trạng mù lòa tăm tối.Nói như thế, vì từ khi nguyên tổ phạm tội, loài người sống trong cảnh tăm tối của tội lỗi. Khi lãnh nhận bí tích rửa tội, Kitô hữu được Chúa dẫn đưa vào nguồn sáng; và điều này được diễn tả qua nghi thức diễn nghĩa. Sau khi rửa tội, người tân tòng được trao cho cây nến sáng thắp từ nến phục sinh. Khi trao nến cho người tân tòng [hay cho người đỡ đầu, nếu người được rửa tội là trẻ nhỏ], thừa tác viên của Giáo Hội kèm theo lời đọc “Con đã trở nên ánh sáng Chúa Kitô. Vậy con hãy luôn sống như con cái sự sáng”. Nghĩa là từ nay, người tân tòng không chỉ được sáng mà còn mang lại ánh sáng cho người khác như lời Kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô Assisi mà chúng ta vẫn hát: “Lạy Chúa từ nhân…, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa,...để con đem yêu thương vào nơi oán thù…
Để con dọi ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu”.
Như thế, sứ mạng của người Kitô hữu không chỉ là ‘đem yêu thương vào nơi oán thù’ mà còn phải ‘dọi ánh sáng vào nơi tối tăm’ nữa. Thực tế cho thấy, nhiều Kitô hữu -trong đó có chúng ta- đã để ngọn đèn đức tin của mình tắt ngúm từ lâu hay đèn đã cạn dầu chỉ còn leo lét không đủ sáng.
Vậy, ước gì, qua lời Chúa hôm nay, xin cho chúng ta nhận ra tình trạng tăm tối của mình; để -noi gương anh mù Bartime- khiêm tốn, can đảm kêu xin Chúa cứu chữa. Xin cho chúng ta cũng ý thức bản thân mình -vốn từng nô lệ trong kiếp tội lỗi- đã được Chúa biến đổi trở nên con cái sự sáng để chúng ta biết quyết tâm xa tránh tội lỗi; thánh hóa bản thân không ngừng hầu trở nên đèn sáng soi chiếu vào lòng người và vào thế giới còn nhiều tăm tối hôm nay. Amen.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
THỂ LOẠI
PHỤNG VỤ
- Bài Thương Khó Gioan (ĐC Hoà)
- Bài Thương Khó Gioan (ĐCV Giuse)
- Bài Thương Khó Marcô vai CGS
- Bài Thương Khó Marcô vai NK
- Bài Thương Khó Marcô vai TN
- Exsultet - Lm Văn Chi
- Exsultet - Martino
- Exsultet - Thành Tâm
- Exsultet - ĐC Nguyễn Văn Hoà
- Exsultet - Đại Chủng Viện Thánh Giuse
- Kinh Sách (dạng PDF)
- Kinh Thánh (nhóm GKPV)
- Kinh Thánh Cựu Ước (Cha Nguyễn Thế Thuấn)
- Kinh Thánh Tân Ước (Cha Nguyễn Thế Thuấn)
- Nghi thức chứng hôn
- Nghi thức Thánh Lễ
- Suy niệm Tuần Thánh (khoá 6)
- Thánh Lễ Nghi thức Hôn Phối
- Đường Thánh Giá (Kiều)
- ĐỌC KINH PHỤNG VỤ ONLINE

