Hiển thị các bài đăng có nhãn Thư Mục Vụ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thư Mục Vụ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2009

Sự Sống (Lm. GB. Nguyễn Hồng Uy)

Thư Cha xứ, số 19: Sự Sống
Kính thưa Anh Chị Em,
“Mạng sống, đống vàng”, đó vừa là quan niệm, vừa là lập trường của mỗi con người chúng ta. Sự sống là gia tài quý giá nhất mà mọi sinh vật có được. Riêng con người, vì ý thức được nhiều nhất về sự cao quý của mạng sống, nên càng lấy làm quý báu sự sống nơi bản thân mình và nơi tha nhân. Sự sống con người là “điều linh thánh”, được Thiên Chúa sáng tạo và chỉ nhằm vào một mục tiêu duy nhất là hướng về Đấng Sáng tạo (x. GLCG, số 2258). Sự sống con người bao gồm sự sống thể xác và sự sống thiêng liêng.
Về sự sống thể xác, đó là gia sản mà ta được trao ban để quản lý. Ta được trao ban từ chính sự quảng đại và tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa. Chính Người đã “không để ta KHÔNG đời đời, mà lại sinh ra ta” (x. Kinh Cám Ơn). Nhưng khi sinh ra ta, Người cũng đã không để ta bất động, vô tri vô giác như gỗ đá, mà cho ta được linh hoạt nhờ sự sống thân xác được Người tạo ra. Thân xác này, cũng không chỉ sống như một cách để tồn tại, mà còn là hình ảnh của Người. Thân xác này, hơn nữa, cũng đã được cứu chuộc nhờ Máu Châu Báu của Đức Kitô và là đền thờ Chúa Thánh Thần.
Tuy nhiên, sự sống của ta, lại hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa. Ta chỉ là người quản lý, nghĩa là chỉ có vai trò gìn giữ, bảo quản, đề phòng bất trắc và làm cho sinh lợi mà thôi. Quản lý chứ không phải là chủ. Thiên Chúa mới là chủ trên sự sống, trên mạng sống của ta. Thiên Chúa có quyền quyết định trên ta, còn ta, ta không có quyền ấy. Không ai có thể tự kéo dài sự sống thân xác của mình. Cũng không ai có quyền rút ngắn sự sống của mình hay của người khác. Hủy hoại hay giết chết sự sống thân xác, của mình hay của người khác, dù ở bất cứ thời điểm nào tính từ lúc bắt đầu tượng thai trong lòng mẹ cho đến khi chết đi cách tự nhiên, đều là tội ác khủng khiếp. Phá thai là tội ác đáng kinh tởm nhất, vì nạn nhân vừa vô tội, vừa không có khả năng tự vệ, còn thủ phạm lại chính là người mẹ cưu mang nó (và những đồng phạm, có khi là cha hay người thân trong gia đình). Giáo luật dạy rằng “ai trực tiếp phá thai thành sự thì bị vạ tuyệt thông tiền kết” (Đ. 1398). Trợ tử hay tạo cái chết êm dịu cũng là tội trọng. Cố sát, tự sát cũng đều là những tội trọng phạm đến sự sống tha nhân và của mình và không thể biện minh bằng bất cứ lý do gì.
Còn sự sống thiêng liêng hay linh hồn bất tử, lại là một kho tàng cao quý khôn lường mà Thiên Chúa đã thông ban cho ta. Kinh Thánh diễn tả rất hình tượng rằng sau khi nắn xong thân xác con người, Thiên Chúa đã “thổi sinh khí vào”. “Nhân linh ư vạn vật”là do ở đây. Thân xác ta có giá trị vượt trội mọi sinh vật, cũng nhờ vào điểm này. Và cũng chính nhờ sự khôn ngoan nơi hồn thiêng bất diệt, mà ta khám phá ra sự vượt trội của thân xác mình. Chỉ có con người mới có xác có hồn. Cũng chỉ con người mới lãnh nhận được ơn cứu độ và niềm hy vọng thân xác ngày sau sẽ cùng linh hồn được sống lại. Ta được cứu độ cả hồn cả xác.
Tôn trọng sự toàn vẹn xác hồn, sống hữu ích cho đời này và bảo đảm cho đời sau, là sứ mạng và là ơn gọi làm người của chúng ta. Sự sống thân xác, theo quy luật tự nhiên, sẽ qua đi với thời gian. Cho nên, cần phải quý trọng từng ngày, từng giờ sống của ta và yêu quý thân xác, vì đó là phương tiện duy nhất ta được dùng mà chuẩn bị cho đời sống vĩnh cửu. Tôn trọng thân xác, nhưng không dừng lại ở đời này, mà phải hướng đến đời sau. Do đó, ta cũng hãy sẵn sàng chịu những sự xem ra thiệt thòi cho cái tạm bợ, nhưng mang lại cho ta sự bảo đảm cho cái trường tồn. “Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, và ai ghét sự sống mình ở đời này, thì sẽ giữ được nó cho sự sống đời đời”, Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay nói với ta như vậy.

Lm. GB. Nguyễn Hồng Uy

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2009

Sự Chết (Lm. GB. Nguyễn Hồng Uy)

Thư Cha xứ, số 18: Sự Chết

Kính thưa Anh Chị Em,

Trong số những vấn đề mang tính hiện sinh mà chúng ta nêu ra để suy tư trong Mùa Chay, thì Sự Chết là vấn đề cuối cùng nằm trong ‘nhóm tiêu cực’ mà ta vừa bàn tới trong ba tuần vừa qua, gồm tội lỗi, sự ác và đau khổ.

Chết là thảm kịch, là thất bại lớn nhất của mọi sinh vật. Đối với con người, chết còn là điều ê chề đau đớn nhất, vì con người là sinh vật có ý thức cao nhất về sự sống và luôn khát khao được trường sinh bất tử, do con người mang trong mình hồn linh bất diệt.

Chết là hết. Đó là quan niệm của những người vô tín ngưỡng hay duy vật vô thần, những kẻ không tin con người có linh hồn. Những người này (đúng ra thì chỉ một số) cũng vì thế mà không tin có thần thánh, không tin có đời sau, không tin vào / hay không cần ơn cứu độ. Họ coi con người chỉ có xác, còn những thứ khác nơi con người như trí khôn, tình cảm… chỉ là những ‘thuộc tính người’. Khi con người chết rồi thì mọi thuộc tính cũng tan biến đi, không tồn tại, như bông hoa sẽ không còn tỏa hương khoe sắc khi đã tàn úa!Chết là sự chấm dứt cuộc sống ở trần gian để đi vào cuộc sống vĩnh cửu. Đây lại là xác tín của đại đa số nhân loại, những người có niềm tin trong các tôn giáo, những người có suy nghĩ theo lương tri bình thường. Ấn giáo và Phật giáo tin có luân hồi, có đầu thai trở lại, nghĩa là tin có linh hồn và đời sống sau cái chết. Hồi giáo cũng dạy có thiên đàng và có sự sống ở đời sau. Dothái giáo (trừ phái Sađốc) cũng tin có sự sống đời sau và sự thưởng phạt công minh của Thiên Chúa. Theo cách nghĩ thông thường, người ta cũng tin có linh hồn bất tử. Nguyễn Du viết trong Truyện Kiều: “Thác là thể phách, còn là tinh anh”, cái qua đi là thân xác, cái tồn tại là linh hồn.

Nhưng dù lý giải đàng nào thì sự chết luôn vẫn là một sự thật khủng khiếp. Người ta nói: “Con cóc còn muốn sống, huống chi con người”, có thể hiểu: con cóc còn sợ chết huống chi chúng ta. Điều đau đớn là không ai tránh được cái chết. Trẻ chết, già chết, giàu chết, nghèo chết, khôn chết, dại chết… chết ‘ráo’ hết. Đau hơn nữa là cái chết lại đến bất ngờ, không báo trước. Nó đặt người ta vào trong thế bị động thê thảm, phá tan mọi kế hoạch, phũ phàng đến tận cùng. Nó thật bí nhiệm, thật đáng sợ.

Người Kitô hữu không chỉ tin có linh hồn bất tử, có sự sống vĩnh cửu, mà còn xác tín vào sự phục sinh thân xác. Cũng như mọi người, họ cũng sợ chết, sợ cuộc sống này sẽ chóng qua đi. Nhưng họ dám đón nhận cái chết trong sự an bình, nhờ niềm tin vào Thiên Chúa. Họ xác tín có sự sống đời sau, nên xem nhẹ cái chết. Họ tin vào ơn cứu độ, vào sự sum vầy cùng với Thiên Chúa ở Thiên Đàng, nên ngay trong sự đau đớn của cái chết, họ vẫn bộc lộ nét hân hoan.

Vì trong Đức Kitô, mầu nhiệm sự chết được tỏ lộ. Chết là bước chuyển tiếp của cuộc sống con người, từ cuộc sống trần thế vào cuộc sống vĩnh hằng. “Sự sống không mất nhưng chỉ đổi thay”, chúng ta vẫn thường hát như thế mỗi khi có đám tang. Nên, nếu sự chết là điều ghê sợ nhất trong kiếp làm người của chúng ta, thì Mầu Nhiệm Vượt qua -chết và sống lại- của Đức Kitô cùng với ơn cứu độ mà Người thực hiện trong Mầu nhiệm này, lại là điều đem đến cho chúng ta niềm an ủi lớn lao nhất, niềm cậy trông vững vàng nhất.

Mùa Chay là thời gian chúng ta chuẩn bị mừng Lễ Vượt qua của Đức Kitô, cũng là thời gian cho ta chuẩn bị cùng được chết với Đức Kitô để được sống lại với Người. Cho nên, những ngày Mùa Chay là những ngày chúng ta cần nghĩ về sự chết, để từ việc nghĩ về sự chết, chúng ta sẽ dễ dàng nhìn thấy căn nguyên sự sống và sự sống lại của ta trong chính Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết nhưng đã sống lại. Ai không nghĩ đến cái chết, sẽ không biết sống như thế nào. Ai không liên kết cái chết của mình với cái chết của Con Thiên Chúa, cũng sẽ không nối kết được sự sống lại của Người vào trong sự sống lại của bản thân, và dễ dàng đánh mất hướng sống.

Hôm nay ta chưa chết, nhưng một ngày kia ta sẽ ra đi. Do vậy, hôm nay ta cần phải chết; chết đi cho những nết xấu, để sống cho những nhân đức; chết đi cho tội lỗi, để trở về đời sống ân sủng; chết đi cho những ích kỷ nhỏ nhoi, để sống một đời quảng đại, vị tha… Chính những cái chết như thế sẽ làm cho cái chết cuối cùng của ta nên “nhẹ như lông hồng”, giúp ta hân hoan bước vào cõi sống ngàn thu với Thiên Chúa nơi cõi vĩnh hằng.

Lm. GB. Nguyễn Hồng Uy
Chánh xứ Thánh Giuse

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2009

Đau Khổ (Lm. GB Nguyễn Hồng Uy)

Thư Cha xứ, số 17 Đau Khổ


Kính thưa Anh Chị Em,
Bên cạnh Tội Lỗi và Sự Ác, Đau Khổ cũng là một đề tài mà chúng ta nêu ra để suy tư trong Mùa Chay này. Theo nhiều tài liệu, “khổ” là từ được nhắc đến thường xuyên nhất nơi cửa miệng con người. Nó còn được nhắc đến nhiều hơn cả hai từ ‘tình yêu’ và ‘hạnh phúc’. Dễ hiểu là vì khi người ta cảm thấy hạnh phúc, thì người ta lại nói đến sự đau khổ của người khác. Nhưng số người thỏa mãn với niềm hạnh phúc đang có thì ít, còn số người cảm thấy khổ sở, đau khổ thì lại nhiều gấp bội. Hơn nữa, hạnh phúc thì chẳng biết mấy cho vừa, còn đau khổ thì chỉ cần một chút thôi đã quá đủ rồi. Đức Thích Ca, một bậc tu hành kể là đến nơi đến chốn, mà còn cho “đời là bể khổ”, phương chi đại loại chúng sinh chưa một lần xuống tóc qui y!
Đau khổ là một mầu nhiệm. Mầu nhiệm này gắn liền với mầu nhiệm về con người. Con người khi sinh ra thì cũng mang kèm theo cả cái khổ để vào đời. Theo Đức Phật, đau khổ là một thực trạng của kiếp làm người. Có thân xác nên có khổ vì phải chịu cảnh sinh-lão-bệnh-tử; không vừa lòng nên khổ vì có ý muốn; do ngũ uẩn là “sắc (thân thể), thọ (tình cảm), tưởng (tư tưởng), hành (tâm tư), thức (nhận thức)” mà sinh ra khổ; rồi thì do lòng dục -tham, sân, si- mà khổ. Tóm lại là do chính mình: tham lam, chấp thủ, vô minh mà gây ra khổ.
Ngài đưa ra con đường giúp chúng sinh thoát khổ. Đó là “Tứ Diệu Đế”trong đó vừa nêu định nghĩa và nguyên nhân của khổ ở hai chân lý đầu là Khổ Đế và Tập Đế, rồi đề nghị cách diệt khổ ở hai chân lý sau là Diệt Đế và Đạo Đế. Bát Chánh Đạo, nằm trong chân lý cuối cùng, đưa ra những phương thức giúp ta tu tâm dưỡng tính để thoát khổ nhờ đạt được “giác ngộ” và thoát được “tham – sân – si”. Rất khó để tu luyện cho đến mức thoát khổ, nên Phật giáo có cái nhìn bi quan về đau khổ, vì dường như đau khổ luôn bao bọc thân phận làm người.
Kitô giáo nhìn nhận đau khổ -cũng như bệnh tật và cái chết- là do tội lỗi mà ra. Đau khổ trước hết là một hình phạt của tội. Ở điểm này, ta nhớ đến sự công minh của Thiên Chúa. Ngài luôn thưởng điều lành, phạt điều dữ. Con người đã lỗi phạm, nên cần có hình phạt xứng đáng. Và đau khổ chính là hình phạt do hậu quả của tội. Tuy nhiên, khi nói đau khổ là do tội, thì lý giải làm sao về những người vô tội cũng phải chịu đau khổ, và kẻ tội lỗi lại sống nhởn nhơ thoải mái? Đây là điều ta rất hay thắc mắc trong cuộc sống. Và trên thực tế, điều trái ngược này có thật. Từ đây, ta lại cần nhìn đến khía cạnh thứ hai của đau khổ. Nó là một thử thách. Thiên Chúa, dù là Đấng Công Minh, cũng không chỉ ngồi đó để dựa vào công đức mà thưởng, vào tội lỗi mà phạt. Ngài muốn thanh luyện chúng ta trên bước đường trần gian, để qua những đau khổ ở đời, ta trở nên những người con xứng đáng hơn do lòng trung thành của ta giữa muôn chiều thử thách. Đây là khía cạnh tích cực và hết sức quan trọng trong quan niệm Kitô giáo về đau khổ. Con người không thể thoát khổ, nhưng con người không phải sinh ra để chịu khổ mà là để hưởng hạnh phúc. Đau khổ không có trong ý định của Thiên Chúa khi tạo dựng con người, nghĩa là nó không thuộc bản chất của con người. Vậy thì khi chịu những đau khổ đời tạm này, con người vẫn có được hạnh phúc, khi dõi mắt trông vào hạnh phúc vĩnh cửu mai sau.
Mầu nhiệm về đau khổ trong mối liên quan với cuộc đời con người được lý giải trong chính Đức Giêsu Kitô. Người là Thiên Chúa mà đã trở nên người phàm phải chịu mọi đau khổ, nhưng đã chiến thắng và cho thấy qua đau khổ sẽ tới vinh quang.
Người Kitô hữu cần nhìn khía tích cực của đau khổ. Khi phải đau khổ, đừng bảo là Chúa phạt, cũng đừng cho đó là Chúa thử thách, mà hãy coi đó như Chúa đang thanh luyện chúng ta, giúp ta nên tinh tuyền hơn như vàng được tinh luyện trong lửa. Hơn thế nữa, đau khổ giúp ta được tham dự vào cuộc Vượt Qua của Đức Kitô. Chính khi vui lòng chịu lấy những đau khổ, mà ta trở thành chi thể sống động trong thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô là Giáo Hội.
Vì vậy, đau khổ dù không thêm gì cho ta, nhưng mang lại cho ta cơ hội thanh luyện mình, khiến cho cuộc đời lắm khổ ải của ta thành bước đường đưa ta vào nguồn phúc đích thật và thường tồn. Đồng thời, khi vui lòng chịu khổ, ta nói lên được một cách hùng hồn về lòng can đảm của những con người biết trông chờ ơn cứu chuộc, giúp cho tha nhân cũng biết vượt qua tất cả để trung thành trong ơn gọi làm con Thiên Chúa, Đấng sẽ bù đắp tất cả cho những ai tín trung với Ngài.


Lm. GB Nguyễn Hồng Uy
Giáo xứ Thánh Giuse - Phan Thiết

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2009

Sự Ác (Lm GB Hồng Uy)

Thư Cha xứ: Sự Ác
Kính thưa Anh Chị Em,
Tuần trước, chúng ta đã nói với nhau về Tội Lỗi. Tuần này, chúng ta nói về Sự Ác. Ác là sự dữ luân lý, nghĩa là xấu xét theo luân lý. Ác được hiểu ở đây là gây hại, là nguy hiểm.
Nói đến sự ác, ta cần lưu ý ngay rằng, sự ác chỉ có nơi con người. Tất cả mọi sinh vật khác đều không có sự ác. Ác khác với dữ. Dữ thuộc về bản năng, còn ác là hành vi có ý thức của lý trí và sự cố tình của ý chí. Con chó, con cọp có thể dữ, nhưng chúng không bao giờ ác cả. Chúng dữ theo bản năng, nhưng không ý thức khi tấn công hay khi bắt mồi. Người Anh có câu: “Chó cắn người là chuyện bình thường, người cắn chó mới là điều đáng nói”. Họ có ý nói tới sự khác nhau giữa một bên là bản năng, còn bên kia là ý thức; một bên là dữ, còn bên kia là ác! Trong cuộc sống, ta không sợ người dữ, mà chỉ sợ người ác. Người dữ tính thì có thể kiềm chế và bị không chế, còn người có tính ác thì khó phát hiện và khó lường. Phật giáo có câu: “Miệng Nam-mô, bụng một bồ dao găm!” hay dân gian vẫn nói: “Miệng thì thơn thớt nói cười, mà lòng xảo quyệt giết người không dao!”. Dữ tính thì bớt đi khi văn minh hơn, nhưng tính ác thì không phải như vậy. Người văn minh, có học, lắm lúc lại ác độc, thâm hiểm hơn người bình dân quê mùa.
Lương tâm là tiếng nói chỉ cho ta thấy điều ác để tránh và điều lành để làm. Nhưng lương tâm phải được huấn luyện mới có khả năng này. Kẻ lòng lang dạ sói thì không còn nghe tiếng mách bảo của lương tâm được nữa.
Hiểu như thế, ta lại cần tìm ra nguyên nhân gây nên sự ác. Nguyên nhân sâu thẳm nhất vẫn là tội. Tội Nguyên tổ gây ra sự tồi tệ cho mọi loài, trong đó con người chịu hậu quả nặng nề nhất. Tội đã phá đi sự lành trọn vẹn nơi con người, thay vào đó là một tình trạng đổ nát, trong đó sự ác nổi lên làm con người nhiều khi không còn sống đúng với bản chất người của mình nữa. Là hậu quả của tội, nên sự ác đã làm con người thụt lùi một bước thật dài. Quả thật, không còn gì cản bước tiến của con người, cho bằng tính ác nội tại nơi họ. Con người vẫn còn tính lành, nghĩa là chưa mất hết sự hiền lành, nhưng vì sự ác đã xâm nhập, nên có những lúc nó lấn lướt sự hiền lành. Nhiều người đã trở nên ác độc một cách dã man. Trong thực tế cuộc sống, có những trường hợp vì để thỏa mãn tính ác, mà người ta làm những chuyện phi nhân không thể tưởng tượng được. Cũng có những người lợi dụng tính ác sẵn có nơi con người, để đào tạo nên những kẻ chuyên làm điều ác mà không biết gớm tay; hoặc dùng tiền xui khiến kẻ khác làm điều ác hại người…
Người Kitô hữu cũng có tính ác trong mình như bao người khác. Ta phải ý thức điều này. Nhưng vì là Kitô hữu, chúng ta không được là người ác, mà phải là người lành, người hiền lành. Chúa Giêsu dạy chúng ta nhiều điều, nhưng tóm lại chỉ trong hai giới răn “Kính Chúa, Yêu Người”. Và Chúa cũng mời gọi chúng ta: “Anh em hãy học cùng ta và hãy mang lấy ách của Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”. Sẽ là phản tinh thần Kitô giáo, nếu người có Đạo mà lại ác tâm, ác ý, ác khẩu, ác độc… Anh chị em lương dân rất mong chờ ở chúng ta sự hiền lành theo gương Chúa Kitô. Lương tâm Kitô giáo phải nhạy bén hơn với những điều ác và xa tránh chúng.
Khó khăn cho chúng ta để sống hiền lành, cũng chính vì ta là những con người. Nhiều khi vì hoàn cảnh đưa đẩy, làm cho tính ác trong ta cũng trỗi dậy mạnh mẽ như con thú hoang. Làm sao kiềm chế được? Khi đó, ta hãy bình tĩnh. Cần nhớ rằng “Cao nhân tất hữu cao nhân trị” và “Aùc giả thì ác báo”. Sống ác, làm điều ác, coi chừng gặp người ác hơn, và gây ra điều ác thì chắc chắn sẽ lãnh lấy hậu quả.
Trên hết mọi sự, ta hãy chiêm ngắm chính Chúa Giêsu mỗi ngày. Ngài là Đấng “hiền lành và khiêm nhường”, “không bẻ gãy cây sậy bị giập, không dập tắt tim đèn còn khói” và khi đối diện với những kẻ sắp hại Ngài, Ngài vẫn “như chiên con trước kẻ xén lông”. Chỉ khi mặc lấy tâm tình của Ngài, ta mới dễ dàng lướt thắng những xung động và sai khiến của cơn giận để đẩy lui sự ác thường hiện hình trong tâm ý ta, giúp ta trở nên những con người hiền lành theo gương Thầy Chí Thánh.

Lm. GB. Nguyễn Hồng Uy,
Chánh xứ Thánh Giuse - Phan Thiết

Thứ Năm, 12 tháng 3, 2009

Thư Mục vụ Mùa Chay 2009, GP Phú Cường

Thư Mục vụ Mùa Chay 2009 của Đức Giám mục Giáo phận Phú Cường
Thư mục vụ tháng 03/2009
Cùng chết với Chúa Kitô để cùng phục sinh với Người


1. Mùa Chay và mầu nhiệm Vượt qua
Anh em linh mục, các tu sĩ nam nữ, chủng sinh và toàn thể anh chị em giáo dân thân mến,
Chúng ta đã bước vào mùa Chay, mùa tưởng niệm và hiệp thông với cuộc khổ nạn của Chúa Kitô để chuẩn bị đón mừng và chia sẻ vinh quang phục sinh của Người. Đây cũng là những ngày các dự tòng ráo riết chuẩn bị để được lãnh nhận ba bí tích khai tâm Kitô giáo trong đêm canh thức phục sinh. Trong đêm canh thức này, trước khi cử hành bí tích Thanh tẩy và lặp lại lời hứa rửa tội, vị chủ sự làm phép nước và giếng rửa tội. Để làm sáng tỏ mầu nhiệm thanh tẩy trong Chúa Kitô, Giáo Hội cho ta nghe lại đọan thư gởi tín hữu Rôma, trong đó thánh Phaolô cho biết, khi lãnh bí tích Thanh tẩy, chúng ta đã cùng chết để cùng sống lại với Chúa Kitô.
Thánh nhân viết: “Anh em thân mến, không phải tất cả chúng ta đã chịu phép rửa trong Đức Kitô, tức là đã chịu phép rửa trong sự chết của Người sao? Vậy nhờ phép rửa trong sự chết của Người, chúng ta cùng được mai táng với Người, để như Đức Kitô, nhờ vinh hiển của Chúa Cha mà sống lại từ cõi chết thế nào, thì cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải sống đời sống mới như vậy” (Rm 6, 3-4).
Hiểu như thế, sống mầu nhiệm mùa Chay là sống mầu nhiệm vượt qua: cùng chết với Chúa Kitô để hủy bỏ con người cũ, và cùng sống lại với Người để thành người mới.
2. Ba công việc của mùa Chay
Theo truyền thống Thánh kinh và tập tục lâu đời của Hội Thánh, thì cầu nguyện, ăn chay và cảm thông chia sẻ là ba việc cốt yếu của mùa Chay, cũng là ba việc giúp chúng ta cùng chết với Chúa Kitô và cùng sống lại với Người. Đức Bênêđictô XVI, trong sứ điệp mùa Chay năm nay đã khẳng định như vậy và ngài còn thêm là những công việc này sẽ giúp chúng ta cảm nghiệm được rõ ràng hơn quyền năng của Thiên Chúa, như chúng ta sẽ nghe trong bài công bố Tin mừng Phục Sinh: “Sự thánh thiện của đêm nay đẩy lui tội ác, rửa sạch lỗi lầm; làm cho tội nhân được tinh trong, người ưu phiền được hân hoan; phá tan hận thù, đem lại hòa thuận và khuất phục quyền uy”.
2.1. Cầu nguyện
Như Chúa Giêsu đã vào hoang địa ăn chay cầu nguyện ròng rã 40 đêm ngày, thì mùa Chay cũng là thời gian chúng ta phải dành nhiều thời giờ hơn để cầu nguyện, đặc biệt là tham dự Thánh lễ và những nghi lễ phụng vụ quan trọng trong mùa này.
Nhờ cầu nguyện chúng ta có thể chiêm ngắm Chúa Kitô, tâm sự với Người, nên sẽ cảm thông được nỗi thống khổ và lòng thương yêu vô biên của Người, khiến Người sẵn sàng chịu mọi khổ hình để đền thay tội lỗi chúng ta và cứu chuộc chúng ta. Nhờ suy gẫm cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, chúng ta hiểu được đức công bình rất mực ngay thẳng của Chúa Cha trước những xúc phạm của nhân loại, nhưng đồng thời cũng thấy được lòng thương xót đầy lân ái của Ngài khi trao phó Người Con Một chịu chết đền thay tội lỗi nhân gian. Nhờ cầu nguyện, chúng ta thấu hiểu được tính chất trầm trọng và xấu xa của tội lỗi để biết thống hối ăn năn; đàng khác, cũng thấy rõ sự yếu đuối dòn mỏng của con người trước những cám dỗ của dục vọng, thế gian và ma quỷ để tỉnh thức canh chừng. Nhờ đọc và suy gẫm Lời Chúa, chúng ta biết cảm thương nỗi thống khổ của những người túng cực nghèo đói, những kẻ cô thân, cô thế bị gạt ra ngoài lề xã hội, không được ai lưu tâm giúp đỡ. Họ nghèo tiền, nghèo của, nghèo kiến thức, nghèo tình thương; họ thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu sự nâng đỡ của người thân, của bạn bè; họ đói khát sự công chính, đói khát hạnh phúc, nhưng nhất là đói khát Thiên Chúa. Chính khi tâm sự với Chúa, chúng ta mới nhận ra bổn phận phải thương giúp mọi người, phải chia sẻ cho họ không những của cải vật chất, nâng đỡ họ không chỉ về mặt tinh thần, nhưng còn lo cho họ được cứu độ muôn đời nữa.
Như vậy, nhờ cầu nguyện, chúng ta không còn sống theo con người bị tội lỗi thống trị, con người chỉ biết chạy theo những đòi hỏi của đam mê, dục vọng, chỉ nghĩ tới mình, lo cho những nhu cầu khát vọng của mình; trái lại chúng ta sẽ biết sống như những người đã được phục sinh nhờ giá Máu của Chúa Kitô, theo những đòi hỏi của Tin Mừng, vuợt lên trên bản thân để nghĩ tới và lo cho nhu cầu của tha nhân, đặc biệt là những người nghèo đói, tàn tật, cơ nhỡ, những người bị bỏ rơi, và trên hết là những người đang đói khát Thiên Chúa, đang cần đến ơn cứu độ của Ngài.
2.2. Ăn chay, hãm mình
Công việc truyền thống thứ hai phải thực hiện trong mùa này là ăn chay, hãm mình, đền tội. Đây là việc thực hành được Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI nhấn mạnh trong sứ điệp mùa Chay năm nay. Quả thực, mùa Chay gợi nhớ 40 ngày chay tịnh của Chúa Kitô trong hoang địa trước khi Người bắt đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng (x. Mt 4, 1-2). Nó cũng nhắc lại cho chúng ta truyền thống của những nhân vật tên tuổi trong Thánh Kinh, như Môisen đã ăn chay trước khi đón nhận bia lề luật của Thiên Chúa (x. Xh 34, 28), Êlia đã ăn chay trước lúc gặp Thiên Chúa tại núi Hôreb (x. 1V 19, 8). Lịch sử cứu độ đầy dẫy sự kiện mời gọi ăn chay. Thiên Chúa đã ra lệnh cho Ađam, Evà không được ăn trái cấm (St 2, 16-17), và theo thánh Basiliô, lệnh cấm này là luật dạy phải “Kiêng khem, chay tịnh” (x. Sermo de jejunio: PG 31, 163, 978). Các cộng đoàn Kitô giáo đầu tiên thường cổ võ ăn chay (x. Cv 13, 3; 14, 22-23; 27, 21). Nó đã được phổ biến trong Giáo Hội xuyên suốt thời gian và không gian, như đã được diễn tả trong một thánh ca với những lời khuyên nhủ sau đây:
Hãy cùng nhau tiết giảm mọi bề, từ nói năng, ngủ nghê, ăn uống, đến vui chơi cuộc sống trần gian, luôn canh giữ vẹn toàn mùa Chay. (Utamur ergo parcius, verbis, cibis et potibus, somno, jocis et arctius perstemus in custodia).
Trong sứ điệp mùa Chay năm nay, Đức Bênêđictô XVI nhắc nhở: Thánh Kinh và toàn thể truyền thống Kitô giáo dạy rằng ăn chay là một trợ giúp lớn lao để xa lánh tội lỗi và tất cả những gì dẫn đến tội; nó mở ra trong tâm hồn người tín hữu một con đường dẫn đến Thiên Chúa. Ngài nhắc lại lời giảng của thánh Phêrô Kim ngôn: “Chay tịnh là linh hồn của lời cầu nguyện, trong khi lòng thương xót là máu đem lại sự sống cho chay tịnh. Nếu bạn cầu nguyện, hãy ăn chay; nếu bạn ăn chay, hãy tỏ lòng thương xót; nếu bạn muốn lời cầu xin được lắng nghe, hãy lắng nghe lời cầu xin của kẻ khác. Nếu bạn không bịt tai trước kẻ khác, bạn sẽ mở được tai Thiên Chúa cho chính bạn” (Sermo 43: PL 52, 320, 322).
Trong thời đại ngày nay, việc kiêng cữ ăn uống còn là một phuơng thế hiệu nghiệm chữa trị nhiều bệnh tật thể xác. Trong bình diện siêu nhiên, cũng theo Đức Thánh Cha, nó chữa lành tất cả những gì ngăn cản chúng ta sống phù hợp với thánh ý Thiên Chúa… Nó góp phần mang lại sự thống nhất cho con người, giữa thân xác và linh hồn, giúp tránh tội lỗi và tăng trưởng cuộc sống thân mật với Thiên Chúa… Việc từ khước lương thực vật chất, vốn nuôi dưỡng thân xác chúng ta, sẽ nuôi dưỡng một thái độ nội tâm giúp lắng nghe Chúa Kitô và được nuôi dưỡng bằng lời cứu độ của Người. Qua việc chay tịnh và cầu nguyện, chúng ta để Chúa đến và thỏa mãn cơn đói sâu đậm nhất mà chúng ta cảm nhận được trong thâm tâm, đó là sự đói khát Thiên Chúa.
Như vậy ăn chay không chỉ là tiết giảm ăn uống, nhưng còn bao gồm cả những việc hãm mình đền tội khác nữa. Nhờ việc chay tịnh này, chúng ta tham dự vào cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, cùng chết với Người cho tội lỗi, cho đam mê dục vọng, cho thế gian xác thịt, để có thể sống theo con người đã được phục sinh với cuộc sống mới. Khi thực hành chay tịnh kèm theo những việc hãm mình đền tội khác, chúng ta thực thụ sống mầu nhiệm mùa Chay, cũng là mầu nhiệm vượt qua vậy.
2.3. Thương người, cảm thông, chia sẻ
Đức Thánh Cha cũng nhắc lại giáo lý về chay tịnh của Đức Phaolô VI đã được trình bày trong Tông hiến “Poenitemini” năm 1966 (Anh em hãy ăn năn sám hối), và ước muốn chúng ta sống và thực hành giáo lý đó, đặc biệt trong mùa Chay, vì đó là sống ơn gọi Kitô hữu của chúng ta. Giáo lý đó giục chúng ta không được sống cho mình, nhưng cho Đấng đã yêu thương và tự hiến vì chúng ta, đồng thời cũng sống cho anh chị em chúng ta nữa.
Nhờ chay tịnh chúng ta biết mở mắt nhìn vào tình trạng của bao người nghèo đói, khổ đau, và như người samaritanô nhân lành, chúng ta biết cúi mình chăm sóc cho những anh chị em đang lâm cảnh không nhà ở, không áo mặc, không của ăn. Trong sứ điệp mùa Chay năm nay, Đức Thánh Cha đưa ra nhận xét này: khi tự nguyện từ bỏ chính mình để lo cho người khác, ta tự khẳng định rằng người đang gặp khó khăn không còn xa lạ với ta nữa, nhưng là người thân cận của ta, và do đó ta cần phải cảm thông, chia sẻ cho họ những gì ta có, từ của cải vật chất, tới tình cảm, tình thương và những thiện hảo thiêng liêng. Đó cũng chính là cách ăn chay Chúa ưa thích và mong muốn, như đã chép trong sách Tiên tri Isaia: “Cách ăn chay mà Ta ưa thích chẳng phải là chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục?” (Is 58, 7).
Như vậy, cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ luôn liên kết với việc ăn chay, cầu nguyện. Thánh Giáo Hoàng Lêô Cả viết: “Đi đôi với việc chay tịnh trong tinh thần đạo đức thánh thiện, không gì hữu ích hơn là việc làm phúc bố thí. Hành động đạo đức này còn gọi là việc thương người, vì bao gồm nhiều cử chỉ đáng khen của lòng nhân ái. Như vậy, giữa các tín hữu, dù khả năng vật chất không đồng đều, nhưng tấm lòng có thể như nhau… Đối với các Kitô hữu chân chính, lòng nhân ái có một phạm vi thực hành vừa hết sức rộng rãi, vừa rất đa dạng, khiến người sung túc giầu sang cũng như kẻ nghèo nàn nhỏ bé đều có thể góp phần làm phúc bố thí. Như vậy, khả năng làm phúc thì kẻ ít người nhiều, nhưng tâm tình yêu mến thì ai cũng như ai” (Trích từ bài đọc II, giờ Kinh sách, Thứ Năm sau lễ Tro).
Chính vì thế, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI khuyên chúng ta: “Chính để giữ cho thái độ đón tiếp và quan tâm tới anh chị em được sống động tôi khuyến khích các giáo xứ và mỗi cộng đòan hãy tăng cường việc chay tịnh, cá nhân và tập thể, trong mùa Chay, liên kết với việc lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện và làm phúc. Ngay từ thuở ban đầu, điều ấy đã là đặc điểm của những cộng đoàn Kitô hữu, nơi có những cuộc lạc quyên đặc biệt (x. 2Cr 8, 9; Rm 15, 25-27). Trong những cuộc lạc quyên này, người tín hữu được mời gọi chia sẻ cho những người nghèo những gì họ đã dành dụm được nhờ ăn chay (Didascalia Ap. V, 20, 18). Việc thực hành này cần được tái khám phá và khuyến khích lại trong thời đại chúng ta, đặc biệt trong mùa Chay”.
3. Những việc cần nhắc nhở thêm
Anh chị em thân mến,
Năm nay là năm kính thánh Phaolô. Theo chương trình mục vụ của giáo phận, chúng ta đã phổ biến 11 đề tài học hỏi về con người và giáo huấn của thánh nhân. Vậy để thích hợp với việc suy gẫm cuộc khổ nạn của Chúa, trong tháng 3 này, xin anh chị em học hỏi về đề tài III, tức “Thập giá sinh ơn cứu độ theo giáo huấn của thánh Phaolô”. Với đề tài này, chúng ta sẽ hiểu thêm và xác tín hơn về giá trị của thập giá, của chay tịnh và hy sinh hãm mình.
Đi đôi với việc thực hành cầu nguyện, xin anh chị em hãy sốt sắng hơn trong việc chầu Thánh Thể nhiều giờ tại mỗi giáo xứ, và việc đọc kinh tối với Lời Chúa hằng ngày tại các gia đình. Chắc chắn, nhờ hai việc đạo này chúng ta sẽ cử hành mùa chay cách hữu hiệu, nhờ đó, Chúa sẽ đổ nhiều ơn lành xuống cho mỗi người, từng gia đình, tòan thể Giáo Hội và cả thế giới nữa.
Cùng với việc chia sẻ, giúp đỡ những người nghèo khổ, tàn tật, khổ đau, xin anh chị em hãy lấy những tiền đã tiết kiệm, dành dụm được góp vào Quĩ cấp cứu của Hội đồng Giám mục như đã quy định.
Xin Chúa Giêsu chịu đóng đinh và Đức Mẹ Sầu Bi, giúp chúng ta sống mùa Chay thật sốt sắng và hữu ích.
Thân ái chào toàn thể anh chị em.
+ Phêrô Trần Đình Tứ Giám mục Phú Cường

Thư mục vụ Mùa Chay 2009, giáo phận Mỹ Tho

Thư mục vụ Mùa Chay 2009 của Đức Giám mục Mỹ Tho

Kính gởi: Các linh mục, tu sĩ, chủng sinh,
và toàn thể anh chị em giáo dân.
Chúng ta bước vào Mùa Chay Thánh trong tình hình kinh tế thế giới bị khủng hoảng và suy thoái trầm trọng. Ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế đang lan rộng và đè nặng trên nhiều người khắp năm châu. Rất nhiều người mất công ăn việc làm, vì nhiều công ty xí nghiệp thua lỗ, nhiều nhà máy phải đóng cửa.
Đất nước chúng ta đang nỗ lực hướng về tương lai, thì xảy ra liên tiếp ba cuộc khủng hoảng trên thế giới: khủng hoảng xăng dầu, khủng hoảng lương thực, khủng hoảng tài chính. Ba cuộc khủng hoảng này, nhất là cuộc khủng hoảng tài chính, đã làm rúng động cả thế giới. Nhiều nhà tỷ phú tự tử vì vỡ nợ, nhiều người giàu có đang xuống dốc thê thảm. Người ta tiên liệu hằng trăm triệu người sẽ thất nghiệp và hằng tỷ người sẽ nghèo đói.
Chúng ta hãy cầu nguyện nhiều cho thế giới, cho mọi người, cho các lãnh đạo quốc gia, để họ cùng nhau tìm biện pháp tháo gỡ những vướng mắc, hợp tác với nhau chặt chẽ để ngăn chặn sự suy thoái và phục hồi nền kinh tế thế giới, cho mọi người được hưởng nhờ. Chúng ta xin Thiên Chúa thương đặc biệt những người nghèo, vì họ là những nạn nhân chịu thiệt thòi nhiều hơn cả.
Tìm lại ý nghĩa đích thực cho cuộc sống con người:
Đây cũng là dịp để chúng ta suy nghĩ về giá trị đích thực của tiền bạc và của cải vật chất, suy nghĩ về bộ mặt thế gian này đang qua đi, để tìm lại ý nghĩa đích thực của cuộc sống con người. Mùa Chay tạo điều kiện cho chúng ta suy nghĩ về thân phận con người trong bầu khí cầu nguyện. Chính Đức Giêsu được Thần Khí đưa vào sa mạc để chịu quỷ cám dỗ. Thần dữ đã thách thức Người “biến đá thành bánh” để có của ăn trần thế, và người đã mạnh mẽ khẳng định rằng “người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh“ (x. Mt 4, 1-4).
Hạnh phúc đích thực của người kitô hữu:
Chúa Giêsu đã dạy không thể làm tôi hai chủ, vừa tôn thờ Thiên Chúa, vừa tôn thờ tiền bạc. Không sớm thì muộn, phải chọn lựa, theo chủ này và bỏ chủ kia, không có cách nào khác. Nếu muốn tôn thờ Thiên Chúa cách chân thật và trọn vẹn, phải bỏ cuộc sống nô lệ tiền bạc, để được tự do bước theo Chúa Giêsu, trở nên con cái Thiên Chúa. Đó là ý nghĩa của mối phúc thứ nhất: “Phúc cho ai có tinh thần khó nghèo, vì Nước Trời là của họ”.
Hạnh phúc của những người môn đệ của Chúa Giêsu không nằm ở tiền bạc: không cần có thật nhiều tiền, có tiền bằng mọi giá. Tiền bạc là một đầy tớ tốt, nhưng là một ông chủ xấu. Kitô hữu được thông phần cương vị làm vua, làm “thiên tử”, làm “con trời” của Đức Giêsu, họ luôn luôn là chủ, không là nô lệ. Dù không có nhiều của cải vật chất, họ vẫn làm chủ số tiền ít oi trong tay họ, sử dụng nó vào mục đích đúng đắn, cho mình và cho tha nhân.
Tiền bạc không là mục đích cuối cùng của đời người, bởi vì nếu như thế thì mọi giá trị khác đều bị hy sinh: sự thật, những điều thiện hảo, cái đẹp, và ngay cả tình yêu… Nếu tiền bạc, lợi nhuận trở thành ông chủ thống trị, thì sẽ làm hại và không sớm thì muộn sẽ giết chết con người. Một trong những lý do xung đột giữa người với người, giữa nước này với nước nọ, là “lợi nhuận”, là của cải vật chất. Người ta vẫn giành giựt nhau “các của cải vật chất”.
An bình và hạnh phúc: cuộc chiến chống nghèo đói
Bình an đi đôi với hạnh phúc, nên con người không thể hạnh phúc khi còn tranh chấp với nhau, hay là nạn nhân của xung đột. Trong chín năm đầu của thiên niên kỷ thứ ba, nhân loại đã chứng kiến biết bao đau thương tang tóc vì những xung đột đẫm máu ở nhiều nơi.
Mối Phúc thật thứ bảy “Phúc cho những ai tác tạo hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa”, nhắc cho chúng ta tầm quan trọng của việc xây dựng hoà bình. Trong sứ điệp ngày thế giới cầu nguyện cho hoà bình, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã thúc đẩy chúng ta chống nghèo đói để xây dựng hoà bình. Điều đó chứng tỏ Giáo hội Công giáo không coi thường của cải vật chất, không chủ trương để cho nhân loại phải nghèo khổ.
Trái lại, học thuyết xã hội công giáo luôn luôn chủ trương một thế giới phát triển toàn diện để phục vụ cho phẩm giá con người. Một thế giới nơi đó con người không những được no đủ, được hưởng các tiện nghi vật chất, mà còn được yêu thương, được kính trọng, được nâng đỡ để có thể đạt tới mục đích của cuộc sống làm người, được hạnh phúc thật sự ngay ở đời này.
Giáo hội, theo gương Chúa Giêsu, luôn đặt con người lên trên của cải; coi của cải chỉ là một phương tiện phục vụ cho hạnh phúc. Chính vì thế con người phải biết chia sẻ của cải cho nhau. Con người hãy cùng nhau làm giàu, và hãy làm giàu cho nhau, không những về vật chất, mà cả về tinh thần. Thay vì tranh giành với nhau, con người hãy biết liên đới với nhau, hỗ trợ cho nhau, chia sẻ cho nhau.
Cuộc chiến chống nghèo đói phải được hiểu cách rộng rãi hơn, vì có nhiều loại nghèo đói khác nhau: nghèo đói về vật chất như thiếu ăn thiếu mặc; nghèo về văn hoá như thiếu tri thức vì không được học hành; nghèo về tương quan như những người bị cô đơn, cô lập, những người thiếu thốn tình cảm; nghèo về tâm linh như những người chỉ còn biết tới của cải và lợi nhuận, ngoài ra không còn những bận tâm nào khác; nghèo về tinh thần và đạo đức, về lòng nhân ái, không còn nhạy cảm về những giá trị chân thiện mỹ.
Sự liên đới và tình bằng hữu:
Cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay cho thấy cách nhìn cũ của con người và xã hội về việc cạnh tranh buôn bán “thương trường là chiến trường”, đã lỗi thời, không còn phù hợp với thế giới hôm nay nữa. Nếu loài người cứ tiếp tục đấu đá với nhau, loại trừ nhau, tiêu diệt lẫn nhau, thì sẽ không còn ai tiêu thụ sản phẩm được làm ra. Không ai tiêu thụ, thì cũng chẳng ai sản xuất, và các sinh hoạt kinh tế thương mại sẽ hoàn toàn bị đình trệ; loài người sẽ tự tiêu diệt.
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay là “một dấu chỉ của thời đại”, một tiếng nói cảnh tỉnh của Thiên Chúa đối với con cái loài người. Chúa nhắc chúng ta hãy góp phần tạo ra một nền văn hoá “nối kết”, một nền văn hoá “bằng hữu”, “thân hữu”, vì loài người được kêu gọi để làm thành một “gia đình nhân loại duy nhất”, con cái của một Cha trên trời. Công nghệ truyền thông hôm nay sẽ giúp con người thực hiện ơn gọi này cách hữu hiệu và tốt đẹp. Cả thế giới trở thành “một ngôi nhà”, ngôi nhà của anh em từ “bốn bể”. Đó là ý nghĩa tích cực nhất của hiện tượng toàn cầu hóa. Hãy cùng nhau loại trừ tất cả các mặt xấu, mặt trái của “toàn cầu hoá”.
Dù ai có nói ngược nói xuôi, anh chị em hãy kiên trì xây dựng “tình bằng hữu” với mọi người, trong phạm vi nhỏ hẹp của địa phương, hay rộng lớn hơn của đất nước, và rộng lớn hơn nữa là đối với các người nước ngoài. Hãy loại trừ tất cả những thái độ thù nghịch, đối với bất cứ ai, vì nó không phù hợp với Tin Mừng của Chúa Giêsu.
Trước hết anh chị em hãy củng cố “tình gia đình” trong chính nội bộ gia đình anh chị em, đừng để cho gia đình trở nên quá lỏng lẻo. Hãy có những bữa ăn chung với nhau, nơi đó mọi người trong gia đình được nuôi dưỡng không những về thể xác, mà cả về tình thần, về tình cảm gia đình, được nuôi dưỡng bằng tình yêu của nhau. Hãy cố gắng giữ giờ kinh tối chung, vắn tắt, nhưng sốt sắng, nhắc nhở mọi người trong gia đình nhớ tới Chúa. Chúa sẽ làm chủ gia đình, sẽ nối kết mọi người trong gia đình lại với nhau trong tình yêu của Chúa.
Chay tịnh giúp sống cho Chúa và cho tha nhân:
Mùa Chay là mùa phụng vụ của Giáo hội nhắc nhở chúng ta cầu nguyện nhiều hơn bình thường. Tôi hy vọng anh chị em biết sử dụng thời gian Mùa Chay để cầu nguyện cho chính mình, cho Giáo hội và cho thế giới. Sự thinh lặng nội tâm cần thiết trong Mùa Chay, để tâm hồn anh chị em được thanh luyện, được gần gũi với Chúa hơn.
Chúng ta được Đức Thánh Cha nhắc nhớ cách đặc biệt về “chay tịnh”. Chay tịnh là một phương thế để nối kết lại tình bằng hữu giữa chúng ta và Thiên Chúa, vì tội lỗi đã làm cho chúng ta xa rời Thiên Chúa. Chay tịnh giúp kìm chế ước muốn của con người cũ, và mở đường dẫn chúng ta đến với Thiên Chúa. Chay tịnh chuẩn bị cho chúng ta được sự sáng suốt và sức mạnh để thi hành thánh ý của Thiên Chúa. Chúng ta kiêng bớt đồ ăn thức uống vật chất, để có khả năng thưởng nếm các lương thực thần linh, như Lời Chúa và Mình Máu Thánh Chúa.
Chay tịnh giúp cho chúng ta thay vì sống cho chính mình, biết sống cho Chúa và cho tha nhân. Lòng nhân ái, việc bố thí, đi đôi với chay tịnh. Chay tịnh Kitô giáo không có mục tiêu chủ yếu là diệt dục, nhưng hướng tới “bố thí”, chia sẻ những gì mình có cho người nghèo. Trong Mùa Chay, chúng ta được kêu gọi tập quan tâm đến người khác và giúp đỡ họ.
Nếu mọi kitô hữu biết “sống cho Chúa và cho người khác”, thì cơn khủng hoảng kinh tế thế giới sẽ nhanh chóng được khắc phục, và nhiều người được an vui trở lại.
Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả anh chị em, ban cho anh chị em được ân sủng và bình an trong Tình yêu của Người. Cầu chúc anh chị em một Mùa Chay sốt sắng, một Lễ Phục Sinh đầy tràn sự sống và niềm hy vọng.
+ Phaolô Bùi Văn Đọc
Giám Mục Mỹ Tho

Thư Mục Vụ Mùa Chay 2009, GP Sài Gòn

Thư mục vụ Mùa Chay 2009 của Đức Hồng y, Tổng giám mục Tổng giáo phận TP HCM
Ngày 25 tháng 01 năm 2009


Kính gởi: Anh em linh mục
Anh chị em tu sĩ và giáo dân thuộc giáo phận thành phố Hồ Chí Minh
1. Mùa Chay là thời gian đặc biệt để thanh luyện và củng cố đời sống Kitô hữu. Chính vì thế, trong mùa Chay, Giáo Hội khuyến khích chúng ta cầu nguyện nhiều hơn, lắng nghe Lời Chúa nhiều hơn, nhất là phải sám hối và canh tân đời sống. Lời mời gọi này lại càng mạnh mẽ hơn khi chúng ta chuẩn bị cử hành Năm Thánh 2010.
2. Như anh chị em biết, ngày 24.11.1960, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã ký tông sắc Venerabilium Nostrorum, thiết lập Hàng giáo phẩm Việt Nam. Đây là một biến cố quan trọng, đánh dấu bước phát triển trong đời sống Giáo Hội tại Việt Nam. Năm 2010 sẽ là thời điểm kỷ niệm 50 năm biến cố trọng đại này. Do đó, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã quyết định lấy năm 2010 làm Năm Thánh trọng thể của Giáo Hội tại Việt Nam, bắt đầu từ ngày lễ Các Thánh Tử Vì Đạo tại Việt Nam 24.11.2009 và sẽ kết thúc vào lễ Hiển Linh 6.1.2011.
3. Cử hành Năm Thánh 2010 là cơ hội khơi dậy tâm tình tạ ơn Thiên Chúa vì hồng ân đức tin Ngài đã ban cho chúng ta. Hồng ân ấy như hạt giống Nước Trời được gieo trên mảnh đất quê hương thân yêu này, để rồi nhờ những giọt mồ hôi lao nhọc của các vị thừa sai, nhờ đời sống thánh thiện của biết bao tín hữu, nhất là nhờ dòng máu anh dũng của Các Thánh Tử Vì Đạo, Giáo Hội trên đất nước này đã từng ngày lớn lên trong nguồn ơn thánh và mỗi ngày mỗi trưởng thành hơn.
4. Tâm tình tạ ơn đó cũng thúc giục chúng ta khiêm tốn tạ lỗi với Chúa và anh chị em. Tạ lỗi vì đã không biết trân trọng hồng ân đức tin Thiên Chúa ban. Tạ lỗi vì chưa sống xứng đáng với ân huệ đức tin là kho tàng mà cha ông ta đã phải trả giá bằng mồ hôi, máu và nước mắt. Tạ lỗi vì chưa đủ nhiệt thành loan báo Chúa Giêsu Kitô và Tin Mừng của Người cho đồng bào của mình. Tạ lỗi vì những lời nói, thái độ và hành động đi ngược lại tinh thần Phúc Âm, làm cho anh chị em ngoài Giáo Hội mất thiện cảm với đạo.
5. Càng hân hoan trong niềm tạ ơn và chân thành trong niềm sám hối, chúng ta lại càng ý thức rõ nét hơn tiếng gọi nên thánh. Thật vậy, Thiên Chúa muốn chúng ta sống thánh thiện, Chúa Kitô muốn chúng ta phúc âm hoá chính cuộc sống mình trước khi loan báo Tin Mừng cho người khác. Vì thế, sống thánh thiện phải là mối quan tâm hàng đầu của mỗi người chúng ta. Đồng thời, ý thức rằng đức tin phải được chia sẻ và Tin Mừng cứu độ phải được loan truyền cho mọi người, Năm Thánh phải là thời gian thúc đẩy chúng ta ra đi chia sẻ hồng ân đức tin cho người khác, giới thiệu Chúa Giêsu và Tin Mừng của Người cho anh chị em của mình, và đem tinh thần Phúc Âm thấm nhuần vào mọi lãnh vực của đời sống cá nhân cũng như xã hội.
6. Muốn được như thế, chúng ta phải chuẩn bị ngay từ bây giờ, nhất là chuẩn bị trong gia đình mình vì gia đình là Giáo Hội thu nhỏ. Chính vì thế, Thư Mục Vụ năm 2009 của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nhấn mạnh đặc biệt đến việc giáo dục trong gia đình. Mỗi gia đình Công Giáo được mời gọi xem xét và điều chỉnh lại đời sống của mình, sao cho gia đình thật sự trở thành môi trường tốt nhất cho việc giáo dục đức tin cũng như các đức tính nhân bản. Càng sống trong thời điểm mà các giá trị đạo đức xuống cấp trầm trọng, gia đình Công Giáo lại càng phải quan tâm đến điều này hơn. Cha mẹ chính là những nhà giáo dục đầu tiên và không thể thay thế, và cha mẹ giáo dục con cái không chỉ bằng lời giáo huấn mà trước hết và trên hết, bằng tình yêu thương và gương sáng của mình.
7. Nếu mỗi gia đình Công Giáo đều nỗ lực xây dựng gia đình mình trở thành mái trường của các nhân đức đối thần (Tin, Cậy, Mến đối với Chúa) và các đức tính nhân bản (trung thực và công bằng, liêm chính và tín nghĩa, nhân hậu và bao dung trong gia đình cũng như ngoài xã hội), chúng ta có quyền hy vọng vào tương lai xán lạn của Giáo Hội, đồng thời góp phần tích cực vào việc lành mạnh hoá đời sống xã hội.
8. Cách cụ thể, tôi đề nghị với anh chị em một vài việc như sau:
(1) Trong Mùa Chay này, mỗi giáo xứ cũng như mỗi đoàn thể nên tổ chức những buổi hội thảo và tĩnh tâm theo chủ đề Thư Mục Vụ 2008 của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, đồng thời nên có những gợi ý hành động cụ thể cho việc giáo dục trong gia đình.
(2) Trong suốt năm 2009, mỗi cộng đoàn dòng tu, mỗi giáo xứ, mỗi đoàn thể nên tổ chức những buổi học hỏi, khai triển, trao đổi và chia sẻ dựa trên Đề Cương của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam về Năm Thánh, với chủ đề: Giáo Hội tại Việt Nam: Mầu nhiệm - Hiệp Thông - Sứ Vụ.
(3) Trong Mùa Chay này, tôi xin mỗi người trong anh chị em tiết giảm chi tiêu mua sắm và dành phần tiết giảm đó cho Quỹ Tổ chức Năm Thánh 2010. Đây vừa là cách chúng ta sống tinh thần chay tịnh trong mùa Chay, vừa là cách đóng góp cụ thể cho công việc chung của Giáo Hội. Xin anh chị em gởi phần đóng góp của mình đến các cha xứ, các cha sẽ tổng kết chung cả giáo xứ và gởi về Toà Tổng Giám Mục.
9. Xin chân thành cảm ơn trước sự đóng góp quảng đại của anh chị em. Nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria, Nữ Vương Các Thánh Tử Vì Đạo, nguyện xin Thiên Chúa ban muôn phúc lành cho anh chị em và giúp anh chị em sống Mùa Chay thánh thiện như lòng Chúa mong muốn.
+ Gioan B. Phạm Minh Mẫn
Hồng y Tổng Giám Mục

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2009

Thư Mục Vụ Mùa Chay, GP Xuân Lộc

TÒA GIÁM MỤC XUÂN LỘC
Y70 Hùng Vương – Xuân Bình
Long Khánh – Đồng Nai.

THƯ MỤC VỤ MÙA CHAY 2009
Kính gửi :
Quý Cha
Quý Tu sĩ nam nữ, Chủng sinh
Và anh chị em giáo hữu
Giáo phận Xuân Lộc.


Anh chị em thân mến ,
Thứ tư lễ Tro vừa qua đã đưa giáo phận chúng ta bước vào Mùa Chay thánh. Bốn mươi ngày hồng phúc được mở ra, mời gọi chúng ta tích cực chuẩn bị sốt sắng việc cử hành long trọng mầu nhiệm Vượt Qua.
Nhân dịp này, trước hết, xin gởi đến anh chị em lời chúc bình an trong Chúa Giêsu. Thứ đến, tôi mời gọi anh chị em tập trung suy niệm về ý nghĩa của việc ăn chay, như Đức Giáo Hoàng Bênêđictô mong muốn trong sứ điệp Mùa Chay gửi toàn thể Giáo hội. Sau cùng tôi muốn đề nghị 1 vài thực hành cụ thể riêng cho giáo phận .
1. Như anh chị em đã biết, Mùa Chay là mùa sám hối. Tiên tri Giô-ên kêu gọi chúng ta : “Hãy xé lòng, chứ đừng xé áo!”(Ge 2 , 13). Sám hối đích thực bắt đầu từ trong tâm hồn, bằng cách ý thức thân phận mỏng dòn yếu đuối của mình để chuyển hướng triệt để toàn bộ đời sống cũ kỹ, dứt khoát từ bỏ quá khứ tội lỗi và thực tâm quay trở về với Thiên Chúa. Nhìn lại quá khứ để vươn tới tương lai, sám hối còn bao hàm ước muốn và quyết tâm đổi mới đời sống, cậy vào lòng thương xót và ân sủng của Thiên Chúa mới có thể giúp chúng ta có quyết tâm như người con trai hoang đàng khởi đầu bước chân trở về nới người : “Thôi ta đứng lên đi về cùng cha và thưa với người : “Thưa cha con thật đắc tội với Trời và với cha, con chẳng còn đáng gọi là con cha nữa”(Lc 15, 18). Một trong những biểu hiện của cuộc hành trình trở về ấy chính là việc giữ chay .
2. Thực vậy, Mùa Chay gợi nhớ bốn mươi ngày chay tịnh mà Chúa Giêsu đã trải qua trong hoang địa trước khi thi hành sứ vụ công khai (x.Mt 4, 1-2). Giống như ông Môsê ăn chay trước khi đón nhận những tấm bia lề luật (x. Xh 34, 28) hay tiên tri Êlia ăn chay trước khi gặp Thiên Chúa tại núi Hôrép (x. 1V 19,8), Chúa Giêsu cũng vậy. Ngài đã chuẩn bị cho sứ vụ của mình bằng việc cầu nguyện và ăn chay, sứ vụ được đánh dấu vào lúc khởi đầu bằng 1 cuộc chiến đấu nghiêm trọng với Satan. Qua đó Ngài muốn dẫn chúng ta đi theo Ngài qua khung cửa hẹp, trên con đường hẹp để tìm kiếm và thực hiện thánh ý Thiên Chúa Cha.
3. Theo gương Chúa Giêsu ngay từ những ngày đầu sứ vụ, người Kitô hữu cũng thực hành việc ăn chay. Đó là 1 trong 3 cách thức truyền thống mà giáo hội vẫn thực hành khi bắt đầu Mùa Chay thánh là ăn chay, cầu nguyện và bố thí. Giữ chay là tự nguyện hãm bớt việc ăn uống, để nói lên lòng thống hối nội tâm, và là phương thế hữu hiệu để kiềm chế tội lỗi và dục vọng. Mục đích của việc ăn chay chính là sự hãm mình : hãm bớt dục vọng, hãm bớt đam mê, hãm bớt những thói hư tật xấu, hãm bớt tính tham lam tiền của, hãm bớt tính đố kị ghen tương, hãm bớt lòng tự cao tự đại. Như thế, việc giữ chay mở rộng tâm hồn chúng ta đón nhận Thiên Chúa. Và nếu tội lỗi đã làm cho chúng ta xa lìa tình yêu Thiên Chúa, thì ăn chay là phương thế giúp chúng ta sám hối ăn năn, sẵn sàng quay trở về với Thiên Chúa và phục hồi tình bạn với Người. Dân thành Ninivê, để đáp lại lời mời gọi hoán cải của tiên tri Giôna, đã công bố lệnh ăn chay, như dấu hiệu của lòng chân thành, và nói rằng : “Biết đâu Thiên Chúa chẳng nghĩ lại, chẳng bỏ ý định giáng phạt và nguôi cơn thịnh nộ khiến chúng ta khỏi phải chết ?”(Gn 3,9).
4. Là sức mạnh để kiềm chế tội lỗi và những gì đưa tới tội lỗi, chay tịnh cũng còn dẫn đến việc thực hành những gì Chúa dạy. Chính Chúa Giêsu đã nêu gương cho chúng ta khi trả lời Satan, sau 40 ngày ở trong hoang địa rằng : “người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh , nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4, 4). Như thế chay tịnh đích thực hướng đến việc ăn “cơm bánh đích thực”, đó là việc thi hành thánh ý Thiên Chúa (x. Ga 4,34). Do đó, nếu Adam đã không tuân lệnh Thiên Chúa mà ăn trái cây biết lành biết dữ, thì người tín hữu qua việc chay tịnh, muốn khiêm nhường qui phục Thiên Chúa, tín thác vào lòng nhân lành và thương xót của Người .
5. Trong chiều hướng trên, chay tịnh là một trợ giúp để mở mắt nhìn thấy tình trạng nghèo khổ của bao nhiêu anh chị em đang sống chung quanh chúng ta. Chính Đức Kitô muốn chúng ta chia sẻ của cải với người khác, vì chiếc bánh, chén cơm, ly nước mà chúng ta trao vào tay người nghèo khó, chính là chúng ta trao vào bàn tay Chúa ( 25, 35). Trong thư thứ nhất, thánh Gioan khuyên nhủ : “nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được?”(3, 17). Vì thế, việc hãm mình, ăn chay chắc chắn mang ý nghĩa đền tội, kiềm chế dục vọng và giúp tham dự tích cực vào mầu nhiệm thương khó của Chúa \, nhưng nhất thiết phải kết thúc bằng hành động chia sẻ.
6. Với tinh thần đó, Mùa Chay năm vừa qua, đáp lại lời mời gọi của tôi, anh chị em đã nhiệt tình và rộng tay chia sẻ những gì mình có cho anh em túng nghèo. Ngoài ra, anh chị em còn quảng đại góp phần mình vào việc cải tạo những cơ sở chung của giáo phận là Tòa Giám mục và Đại chủng viện. Nhờ ơn Chúa và với sự gúp đỡ quí báu của anh chị em, đến nay, chúng ta hoàn thành phần lớn công việc. Chúng ta đã dành 1 tuần lễ đầu tháng 10/2008 để tạ ơn Thiên Chúa. Đến ngày 21/3/2009 chúng ta sẽ tổ chức lễ Thánh Giuse, Bổn mạng giáo phận, trong tâm tình cảm tạ Thiên Chúa và tri ân Thánh Bổn mạng .
Mùa chay năm nay, 1 lần nữa tôi xin anh chị em tiếp nối những truyền thống tốt đẹp ấy. Chúng ta sẽ tiếp tục chia sẻ hồng ân Thiên Chúa cho những người nghèo qua thùng “BÁC ÁI HIỆP THÔNG” trong suốt Mùa Chay này. Đồng thời, anh chị em cũng giúp chúng tôi tiến hành việc xây dựng NHÀ HƯU DƯỠNG cho các linh mục giáo phận. Đây là công việc cấp bách và cần thiết. Một căn nhà nhỏ, ấm cúng, tiện nghi tương đối là 1 món quà ý nghĩa, là 1 cử chỉ của lòng biết ơn đối với quí Cha đã hy sinh cả đời cho đoàn chiên Chúa trong giáo phận. Tôi tin tưởng rằng, qua những hy sinh quảng đại đầy thảo hiếu của anh chị em, Thiên Chúa sẽ trợ giúp chúng ta hoàn thành công việc tốt đẹp này .
Cuối thư, tôi xin Thiên Chúa chúc lành cho mọi công việc chúng ta làm để tôn vinh danh Chúa, và nguyện chúc anh chị em 1 Mùa Chay sốt sắng, được tràn đầy ơn lành của Chúa và 1 mùa Phục Sinh tràn đầy sức sống mới của Đức Kitô. Xin anh chị em tiếp tục cầu nguyện cho chúng tôi .

Xuân Lộc, ngày 26 tháng 02 năm 2009

ĐAMINH NGUYỄN CHU TRINH
Giám mục giáo phận Xuân Lộc.

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2009

Thư Mục Vụ Mùa Chay, GP Đà Lạt

TÒA GIÁM MỤC ĐÀLẠT
9 Nguyễn Thái Học
Đàlạt – Lâm Đồng
Đàlạt, ngày 21 tháng 02 năm 2009


THƯ MÙA CHAY 2009
Kính gửi : Quý Cha,
các Tu sĩ – Chủng sinh
và Anh Chị Em giáo dân
trong Gia Đình Giáo Phận

Tái khám phá ý nghĩa kitô giáo của việc thực hành chay tịnh
Quý Cha và Anh Chị Em thân mến,
Mầu Nhiệm Tử Nạn – Phục Sinh của Đức Kitô là cao điểm và là nguồn suối cho tất cả đời sống kitô hữu của chúng ta, đời sống của những người tin vào Chúa và dứt khoát đi theo Chúa.
Vì thế, tôi gửi đến anh chị em Lá Thư Mùa Chay này, với mong muốn tất cả chúng ta, mỗi người, mỗi gia đình trong Giáo phận chuẩn bị cách tốt nhất để tham dự sâu xa vào mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô, đồng thời kín múc cho mình những ân sủng thiêng liêng cần thiết, để đời sống kitô hữu chúng ta ngày càng lớn lên, ngày càng trưởng thành và mạnh mẽ, sẵn sàng dấn thân trong đời sống đức tin và đức mến, trên con đường mà Đức Kitô đã mở ra cho chúng ta.
Như anh chị em biết, thời gian Mùa Chay trải dài trong 40 ngày với cao điểm là Canh Thức Phục Sinh, trong đó chúng ta ca hát quyền năng của Thiên Chúa là Đấng "đã chiến thắng sự dữ, rửa sạch lỗi lầm của chúng ta, ban lại cho tội nhân sự trong trắng, niềm vui cho người sầu khổ, làm tan biến hận thù, mang lại cho chúng ta bình an và hạ thấp sự kiêu ngạo của thế gian". Lời loan báo Mầu Nhiệm Vượt Qua này đã được Đức Thánh Cha Bênêđictô nêu lên ngay đầu Sứ Điệp Mùa Chay 2009 của Ngài, nhằm kêu gọi các kitô hữu trên toàn thế giới suy nghĩ và khám phá lại ý nghĩa kitô giáo của việc thực hành chay tịnh. Hiệp với ý nguyện đó, tôi cũng kêu gọi anh chị em đào sâu ý nghĩa và thực hành việc chay tịnh trong Mùa Chay Thánh năm nay cách đặc biệt hơn, phù hợp với hoàn cảnh sống đạo của chúng ta.
1. Chay tịnh – phương thế tham dự vào cuộc chiến chống lại sự dữ, trưởng thành trong đời sống thiêng liêng : Thời gian chay tịnh 40 ngày nhắc lại cho chúng ta cuộc xuất hành của Dân Chúa ra khỏi đất Ai Cập về miền Đất Hứa. Thời gian 40 năm lang thang trong sa mạc đã giúp họ trưởng thành trong đời sống thiêng liêng, thực sự dứt bỏ với quá khứ nô lệ. Thật vậy, nhờ thời gian thiếu thốn trong sa mạc mà họ nhận ra con người thực của mình : được giải thoát nhưng vẫn dính bén với đời sống vật chất dễ dãi trong quá khứ, tiến về miền Đất Hứa mà lòng vẫn tiếp tục gắn bó với đủ thứ ngẫu tượng. Và chính nhờ sống trong thiếu thốn mà họ học được thế nào là dứt khoát với những dính bén trần tục và thế nào là khao khát lương thực thần thiêng của Thiên Chúa. Nhắc lại điều này là để tất cả chúng ta nhớ rằng : chay tịnh không phải chỉ là nhịn ăn nhịn uống bên ngoài mà là phương thế cần thiết giúp chúng ta, những người đi theo Chúa, có cơ hội ý thức hơn về thực trạng đời sống tinh thần của mình. Thật vậy, chúng ta sống dính bén với tội lỗi, với những lợi lộc trần gian, với những tham vọng thế tục nhiều hơn chúng ta tưởng. Vì thế, ước mong anh chị em hãy coi trọng việc chay tịnh, và hơn nữa mang lấy tinh thần chay tịnh, nghĩa là dứt khoát với "ma quỷ, mọi việc làm và mọi sự sang trọng của ma quỷ", tự nguyện loại bỏ hay bớt đi những nhu cầu không cần thiết, hoặc xử dụng một cách chừng mực hơn, chính đáng hơn những phương tiện hoặc sở hữu của mình, để nhờ đó, tâm hồn và đời sống của chúng ta nhẹ nhàng hơn, tự do hơn trong việc hướng tới những "của cải tinh thần" mà Thiên Chúa sẵn sàng ban cho chúng ta trong Đức Kitô.
2. Chay tịnh – phương thế giúp cảm thông với người sầu khổ. Việc chay tịnh không chỉ nhằm thanh luyện bản thân mà hơn nữa còn là phương thế giúp chúng ta mở rộng lòng ra với tha nhân. Thật vậy, đọc lại lịch sử Dân Chúa, chúng ta thấy các tiên tri đã không ngừng lên tiếng cảnh tỉnh Dân Israel hãy biết thương đến người nghèo khổ, thiếu thốn bởi lẽ chính họ cũng là những kẻ đã từng phải khốn khó, tha hương. Thánh Gioan cũng cảnh giác các kitô hữu : "nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy" (1Ga 3,17). Như thế, chay tịnh đích thực luôn gắn liền với "bố thí", nói khác đi, tự nguyện sống nghèo khó là để cho anh em mình được nên giầu có ! Quả thực đây mới là ý nghĩa đặc trưng của chay tịnh theo tinh thần kitô giáo, bởi lẽ nó vừa giúp chúng ta ý thức mình chỉ là kẻ nghèo trước mặt Chúa, vừa là cơ hội để chúng ta đi theo con đường mà Đức Kitô đã đi, như lời thánh Phaolô nói với giáo đoàn Côrintô, nhân dịp lạc quyên giúp đỡ người đói khát, hoạn nạn : " Anh em biết Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã có lòng quảng đại như thế nào : Người vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em mình trở nên giàu có" (2Cr 8,9). Như thế, ăn chay sẽ không có bao nhiêu ý nghĩa nếu điều đó không làm cho mỗi người, mỗi gia đình chúng ta biết sống rộng rãi hơn, thông cảm hơn trong đời sống của mình với người khác. Ăn chay là để tấm lòng chúng ta trở nên giàu có, như Đức Kitô.
3. Chay tịnh – con đường dẫn đến Thiên Chúa : Chay tịnh giúp chúng ta nhận ra con người thực của mình, dứt khoát với tội lỗi, mở lòng ra với tha nhân, và sâu xa hơn nữa "mở ra nơi tâm hồn tín hữu con đường dẫn đến Thiên Chúa… thánh Phêrô Kim Ngôn viết : Việc chay tịnh là linh hồn của việc cầu nguyện, lòng thương xót là sức sống của việc chay tịnh. Vì thế ai cầu nguyện thì phải ăn chay ; ai ăn chay thì phải có lòng thương xót" (trích sứ điệp Mùa Chay 2009). Thực vậy, suy gẫm lại 40 ngày chay tịnh của Đức Giêsu cũng như ba cơn cám dỗ Ngài trải qua sau đó, chúng ta thấy tất cả đều qui về một mục đích : đón lấy Thánh Ý Cha làm lương thực cho tất cả đời sống và sứ vụ của mình. Vì thế mục đích cuối cùng của chay tịnh là giúp chúng ta, mỗi người, mỗi gia đình biết sẵn sàng đón nhận Thánh Ý Chúa làm kim chỉ nam và làm lương thực cho đời sống của mình. Điều này cũng có nghĩa là, thời gian chay tịnh phải trở thành thời gian để mỗi người, mỗi gia đình ý thức hơn, khám phá nhiều hơn về lòng mến của Thiên Chúa dành cho chúng ta cũng như lòng mến của chúng ta dành cho Thiên Chúa, qua việc suy gẫm Lời Chúa, tham dự các cử hành Phụng Vụ cũng như các thực hành đạo đức thiêng liêng khác.
Quý Cha và Anh Chị Em thân mến,
Chay tịnh không chỉ là thực hành đạo đức theo lòng sốt sắng cá nhân nhưng là điều mà Kinh Thánh cũng như tất cả truyền thống kitô giáo đề ra cho chúng ta và đã đem lại bao nhiêu hoa quả cho đời sống người kitô hữu trong suốt dòng lịch sử. Nhưng phải nhìn nhận rằng, trong thế giới hiện tại của chúng ta, một thế giới đề cao giá trị vật chất cùng với tất cả những tiện nghi mà phương tiện vật chất mang lại, việc chay tịnh dần dần mất đi ý nghĩa, ngay cả đối với người kitô hữu, và cũng vì thế mà đời sống tinh thần, đời sống tâm linh có nguy cơ cạn kiệt. Do đó, khi lập lại những giá trị thiêng liêng của việc chay tịnh theo tinh thần kitô giáo, tôi hết sức mong mỏi anh chị em hãy ý thức lại những giá trị đó. Hãy tôn trọng và thực hành việc chay tịnh theo lời dạy của Giáo Hội, nhưng với ý thức của con người trưởng thành, nghĩa là hiểu biết và thấm thía lý do sâu xa của điều mình làm. Đặc biệt là các bậc cha mẹ, xin anh chị em hãy giải thích cặn kẽ cho con cái ý nghĩa và sự cần thiết của chay tịnh, và anh chị em hãy làm gương trong sự dứt khoát với tội lỗi, sốt sắng tham dự các cử hành phụng vụ cũng như dấn thân trong việc bác ái, vì nhờ đó, anh chị em có thể thực hiện cách hữu hiệu điều mà Giáo Hội Việt Nam đề ra cho năm mục vụ 2009 : "Canh tân môi trường giáo dục gia đình công giáo".
Thân mến,
Phêrô Nguyễn Văn Nhơn
Giám Mục Giáo Phận Đàlạt

Thư Mục Vụ Mùa Chay, GP Phan Thiết

Tòa Giám Mục Phan Thiết
422 Trần Hưng Đạo
T.P. Phan Thiết Phan Thiết ngày 01 tháng 3 năm 2009

THƯ MỤC VỤ MÙA CHAY 2009

Kính gửi:
Quí Cha
Quý Tu sĩ, Chủng Sinh
và anh chị em thân mến
Mùa Chay Thánh chúng ta đã bắt đầu với những lời giục giã của Thánh Phaolô: “Đây là thời thuận tiện, đây là lúc thi ân”.
“Thời thuận tiện”, vì sau bao ngày chuẩn bị từ thời Cựu Ước, khi thời giờ Thiên Chúa ấn định đã đến thì Người sai Con Một đi vào cõi đời chúng ta để khai mở một thời đại mới, một cuộc sáng tạo mới, dẫn dắt nhân loại đi vào con đường tới cuộc sống Hạnh Phúc đời đời, đó là Nước Thiên Chúa.
Cuộc khổ nạn và Phục Sinh của Chúa là “thời điểm thi ân”. Vì cuối đời Ngài đã dâng lên Cha một của lễ Tình Yêu vô giá, Ngài đã hiến mạng sống mình trong niềm tin yêu vâng phục của Người Con thảo hiếu. Ngài cũng lấy cái chết đó để tỏ bày cách rạng ngời nhất tình yêu Thiên Chúa từ thuở đời đời đã dành cho nhân loại. Và từ thập giá Con Cha đã nói với nhân loại: “ Ngày nào treo tôi lên, Tôi sẽ kéo mọi sự lên cùng Tôi”. Người kẻ trộm lành với quá khứ tội lỗi suốt một đời, không còn chi hy vọng, vì hy vọng cuộc sống giờ đó đã tiêu tan trên thập giá, bên Chúa Giêsu. Thế mà với niềm tin khiêm tốn và chân thành, anh dâng lời nguyện cầu tha thiết: “Lạy Ngài khi nào về Nước Ngài xin nhớ đến tôi” (Lc 23, 42). Chúa đã đáp lời anh: “Đêm nay anh sẽ được ở trên Thiên Đàng với Ta” (Lc 23, 43).
Đây là người thợ vườn nho vào giờ chậm nhất, lại trở nên người đầu tiên được lãnh ơn huệ Nước Trời: “Đây là giờ thi ân…”. Từ hơn hai nghìn năm qua những người được thi ân kể chi xiết. Và giờ đây lời đó đang khẩn trương mời gọi chúng ta hãy đến, như Chúa đã kêu lớn tiếng tại đền thờ Giêrusalem: “Hỡi những ai đang khát hãy đến với Tôi, ai tin vào Tôi, hãy đến mà uống! Như Kinh thánh đã nói: “Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng Nước Hằng Sống” (Ga 7, 37-38). Thánh Gioan đã giải thích: Đức Giêsu muốn nói về Thần Khí mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận”. (Ga, 38-39).
Dòng Nước Thánh linh đó đã biến thành một biểu tượng cực kỳ cảm động khi Chúa đã tắt thở, một người lính đã lấy lưỡi đồng đâm vào cạnh sườn của Chúa, tức thì máu cùng nước chảy ra, máu chỉ sự chết, nước chỉ ơn Thánh linh tuôn tràn từ Thân Thể Phục Sinh của Chúa. Từ dòng nước Thánh linh đã đem đến ơn tha thứ và ơn sự sống mới cho chúng ta trong Bí tích Rửa tội.
Đêm vọng Phục sinh ta sẽ cử hành Mầu nhiệm Ánh sáng và Sự sống Chúa Kitô được Thánh linh ban tặng cho những ai được tham dự vào nhân loại mới, chính là Giáo hội của Người. Đó cũng là lúc chúng ta tuyên xưng lại Đức tin trong phép Rửa tội.
“Giờ thuận tiện, lúc thi ân” luôn luôn chờ đợi chúng ta đến lãnh nhận suốt cuộc đời người tín hữu, nhưng mùa Chay là thời gian Mẹ giáo hội mở rộng vòng tay, ôm chúng ta vào lòng, để với tình thương tha thiết, với năng lực phục hồi thiêng liêng, cho ta cơ hội lãnh nhận dồi dào sự sống kỳ diệu của Chúa Kitô.
Với một số việc làm như giữ chay, giao hòa với anh em, xưng tội, suy niệm về cuộc thương khó của Chúa và đặc biệt làm việc bác ái như là biểu lộ tình yêu của chúng ta đối với Ngài, chúng ta hãy nhiệt tình hưởng ứng để nâng tâm hồn ta lên, để được Chúa Kitô lôi kéo chúng ta vào thế giới kỳ diệu của Ngài, thế giới của Tình yêu vạn thuở, nơi đây con người được thần hóa, được thanh luyện, được no say yến tiệc của Nước Thiên Chúa.
Đặc biệt năm nay, năm Thánh Đức Mẹ Tàpao, chúng ta có thêm cơ hội để được Đức Mẹ rèn luyện Đức tin, thanh tẩy quá khứ chúng ta bằng những ngày toàn xá, hơn bao giờ hết đời sống thiêng liêng của chúng ta đang được Đức Mẹ âu yếm săn sóc vỗ về. Tạ ơn Mẹ, biết ơn Mẹ, chúng ta nổ lực nhiều hơn nữa để ăn năn sám hối, siêng năng lần hạt mân côi, dâng lên Mẹ niềm tin yêu phó thác cho trái tim đầy ắp tình yêu của Mẹ.
Cầu chúc anh chị em sống phong phú mùa Chay Thánh và Năm Toàn Xá này.
+Phaolô Nguyễn Thanh Hoan
GM. Giáo Phận Phan Thiết

Bộ sưu tập hình hang đá máng cỏ

Liên kết các Blog

  • - CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN – B KÍNH TRỌNG THỂ ĐỨC MẸ MÂN CÔI Is 61,9-11; Gl 4,4-7; Lc 1,26-38 CHỦ ĐỀ: MARIA, NGƯỜI NỮ ĐỨC TIN SỨ ĐIỆP: Siêng năng lần hạt; ca...

Album CHẶNG ĐÀNG THÁNH GIÁ

Album SAO CON KHÔNG CÓ LỜI RU

Lượt xem:

Web Page Traffic Counter

Powered By Blogger