Thứ Năm, 18 tháng 8, 2011

Bài giảng Chúa nhật XXI Thường Niên (Văn Hương)

Chủ Đề : SỐNG THEO THẦN KHÍ.
Matthêô : 16,13-19.
----------------------------------------------------------------------------------------
Cộng đoàn phụng vụ thân mến,
Chúng ta vừa nghe thánh Matthêo thuật lại việc Phêrô tuyên xưng Chúa Giêsu là “Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”(Mt 16,16). Qua đó mời gọi mỗi người chúng ta sống đức tin hàng ngày với sự hướng dẫn của Thần Khí.
Lời Chúa Giêsu khen ngợi Phêrô : “Hỡi Simon, con ông Giona, con có phúc, vì chẳng phải phải xác thịt hay máu huyết mạc khải cho con, nhưng là Cha thầy, Đấng ngự trên trời”(Mt 16,17) cho thấy : đức tin là ân huệ Chúa ban, mặc dù con người thật sự có thể nhận biết Thiên Chúa nhưng họ không thể không sai lầm nếu không có Thiên Chúa giúp. Bằng chứng là những người Do thái, với tài sức của mình, họ chỉ nhận ra Chúa Giêsu là một con người tài giỏi, có những đặc điểm giống các bậc tiền nhân như : Gioan Tẩy Giả, Êlia, Giêrêmia hay một tiên tri nào đó. Và họ hoàn toàn không biết gì về sứ mệnh cũng như thiên tính của Ngài. Điều này không chỉ nói lên sự giới hạn của lý trí con người, nhưng còn cho thấy xu hướng chung của nhân loại, vì sống giữa thế gian nên quy chiếu tất cả trong nhãn quan thế gian. Hay nói như thánh Phaolô trong thư gửi Rôma chương 8 câu 5 : “Những ai sống theo tính xác thịt, thì hướng về những gì thuộc tính xác thịt”(Rm 8,5). Quả vậy, trí tuệ con người dứt khoát không thể định nghĩa Thiên Chúa như lời Chúa Giêsu từng khẳng định : “Không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha ; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mạc khải cho" (Mt 11,27). Thánh Phaolô cũng nhấn mạnh sự bất lực của con người khi nói về Đấng Tối Cao : “Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi nhờ ân sủng của Người. Người đã đoái thương mạc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại. Tôi đã chẳng thuận theo các ‘lý do tự nhiên’” (Gl 1,15-16). Bởi đó, để nâng con người lên tầm mức siêu nhiên, đồng thời cứu độ con người. Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã mạc khải chính mình và tỏ cho mọi người biết mầu nhiệm Thánh Ý Ngài, để họ có thể tham dự vào các sự tốt lành thuộc về Ngài mà trí khôn con người không bao giờ đạt tới.(x. DV 2.6), cụ thể là sứ mệnh của Phêrô : “Con là đá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và cửa địa ngục sẽ không thắng được. Thầy sẽ trao cho con chìa khóa Nước trời. Sự gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc : và sự gì con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở”(Mt 13,18.19). Có thể nói, qua đức tin của Phêrô, các Tông đồ đã tách khỏi đám người Do thái cứng tin, làm thành nhóm còn lại sẽ nhận lãnh ơn cứu độ mà các tiên tri đã loan báo. Và từ đây, Chúa Giêsu mới có thể ủy thác cho Phêrô quyền “cầm buộc và tháo cởi", nghĩa là quyền thu nhận hoặc loại trừ khỏi Nước thiên sai, hay hơn nữa, quyền quy định trong tất cả những gì liên quan đến tín lý và luân lý mà đời sống cộng đoàn thiên sai đòi hỏi, y như trong sách Đanien, các thánh của Đấng tối cao đã được thông ban các đặc quyền của Con người. Quyền cầm giữ chìa khóa này, do Thiên Chúa thương ban, dựa trên niềm tin của Phêrô, một con người tội lỗi nhưng đồng thời là một kẻ tin.
Cộng đoàn phụng vụ thân mến,
Đức tin của chúng ta đến từ Thiên Chúa, và cũng như Phêrô năm xưa, nếu không được Thần Khí soi dẫn thì đời sống đạo của chúng ta sẽ bị những quan niệm thế gian chi phối. Lời Chúa Giêsu quở trách Phêrô khi ông tỏ thái độ không chấp nhận cuộc thương khó - phục sinh của Ngài là một minh chứng cụ thể : “Hỡi Satan, hãy lui ra đằng sau Thầy, con làm cho Thầy vấp phạm, vì con chẳng hiểu biết những sự thuộc về Thiên Chúa, mà chỉ hiểu biết những sự thuộc về loài người”(Mt16,23). Như vậy, để tuyên xưng đức tin như Phêrô được Chúa Cha mạc khải và không nhìn Thiên Chúa với nhãn quan nhân loại như ông, chúng ta phải cởi bỏ con người vốn yếu đuối bất toàn, vì như thánh Phaolô nói : “hướng đi của tính xác thịt là sự phản nghịch cùng Thiên Chúa, tính xác thịt không phục tùng luật của Thiên Chúa…những ai bị tính xác thịt chi phối thì không thể vừa lòng Thiên Chúa”(Rm 8,5-8).
Xin Chúa cho mỗi người chúng ta biết sống niềm tin của mình theo sự hướng dẫn của Thần Khí Thiên Chúa, để cuộc sống thường nhật của chúng ta không chỉ là lời tuyên xưng “Chúa Giêsu là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, nhưng còn mang lại cho tha nhân Tin mừng cứu độ. Amen

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2011

Bài giảng Chúa Nhật XIX Thường Niên (Văn Hương)

LẠY CHÚA XIN CỨU CON.

----------------------------------------------------------------------------------------
Cộng đoàn phụng vụ thân mến,
Chúng ta vừa nghe trích đoạn lời Chúa trong Tình mừng Thánh Matthêu thuật lại cuộc thần hiện dành riêng cho các môn đệ, “những kẻ ở trong thuyền”, nghĩa là cho Giáo Hội của Đấng Phục sinh : trong Chúa Giêsu, chính Thiên Chúa cứu thế của thời Xuất hành tiếp tục giải thoát Israel mới khỏi những luồng nước khủng khiếp hằng rình chực nuốt lấy họ (x. Xh 14 và 15). Sự hiện diện cứu nguy của Người giữa cơn bão táp là nền tảng niềm tin của các tín hữu và cho phép họ nói lên cách vững lòng : "Ngài thật là Con Thiên Chúa".
Điều đã xảy đến cho Phêrô, thủ lãnh các sứ đồ, sẽ mãi là kiểu mẫu và gương soi cho mọi kẻ tin. Ở đây, Phêrô đại diện toàn thể Giáo Hội đang đứng trước mặt Thầy mình. Giáo Hội biết rằng mình được bảo đảm vượt thắng mọi thử thách nguy biến, rằng mình sẽ chẳng bao giờ đắm chìm, mất hút trong giòng lịch sử, với điều kiện cương quyết giữ vững đức tin. “Nếu không gắn bó với Ta, các ngươi sẽ chẳng đứng vững được " (Is 7, 9). Điều này có giá trị đối với dân Giao ước mới như đối với dân Giao ước cũ.
Tin là nhảy xuống nước để đi gặp Chúa Giêsu. Nếu lúc ấy chúng ta sợ, thế của chúng ta sẽ trở nên nguy hiểm hơn lúc ta bằng lòng ở lại trên thuyền với các kẻ khác. Một khi đã liều, thì phải liều cho đến cùng tận. Nếu không nỗi sợ hãi sẽ nhận chìm ta. Tuy nhiên, dù bấy giờ sợ hãi, dù không còn sức tin tưởng trước cơn bão hoài nghi và chướng ngại, ta vẫn còn có thể kêu lên: "lạy Chúa, xin cứu con". Và Người sẽ không bỏ lỡ cơ hội để nói với ta: Hãy yên tâm, Thầy đây, đừng sợ !
Phêrô bắt đầu chìm xuống "lúc thấy gió thổi" (c.30), ông đã chia trí không nhìn đến sự hiện diện trấn an của Chúa Giêsu. Nhưng ông lại được cứu một khi quay nhìn về Người. Thiết nghĩ, lời kêu cứu của Phêrô : "Lạy Chúa, xin cứu con với" cũng phải là lời đầu tiên trên môi miệng mỗi người trong chúng ta khi gặp phải bất cứ nguy hiểm hay khó khăn nào. Vì đúng như miệng người đời vẫn nói, cuộc sống chúng ta là một chuỗi "lên voi xuống chó", một sự thay đổi không ngừng giữa bão táp và yên lặng, giữa vui mừng và đau khổ, giữa hạnh phúc và khốn cùng, v.v… Nhưng trong mọi hoàn cảnh, chúng ta hãy luôn giữ lòng trung tín và tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa. Đó chính là vấn đề trọng yếu. Bởi vì chúng ta luôn vững tin rằng Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ chúng ta, luôn đồng hành với chúng ta, luôn hiện diện bên chúng Ta. Sau khi Chúa Giêsu lên thuyền, gió bỗng lặng yên. Người không cần ra lệnh như đã làm trong cơn bão táp (8, 26). Sự hiện diện của Chúa Giêsu đủ sức đem lại yên tĩnh và chế ngự biển cả cuồng điên. Trong đời ta cũng thế. Nếu biết đặt Chúa Giêsu ở trung tâm đời mình như một hiện diện đích thực và sinh động, ta sẽ được an bình nội tâm, dù bên ngoài phải tư bề sóng gió.
Cộng đoàn phụng vụ thân mến,
Là con người, tự mình chúng ta không thể làm được gì cả, nhưng cùng với Chúa Giêsu, chúng ta sẽ làm được tất cả. Bởi vì vũ trụ hiện hữu được là nhờ Người và trong Người. "Không có Chúa Giêsu thì chẳng có gì được tạo thành" (Ga 1,3). Vậy, cũng như việc Người đã làm cho năm chiếc bánh hóa nhiều đến nỗi đủ cho hơn năm ngàn người ăn no, phép lạ Người bước đi trên mặt nước hồ như đi trên đất liền, là một bằng chứng hùng hồn nói lên quyền tối thượng của Thiên Chúa trên tất cả mọi tạo vật và một điểm tựa vững chắc, củng cố đức tin của các môn đệ. Bởi vậy, "Lạy Chúa, xin cứu con với!" phải là lời cầu xin duy nhất đầu tiên mà chúng ta dâng lên Thiên Chúa trong mọi nỗi túng quẩn và cơ cực của chúng ta, chứ không phải chạy theo tìm an ủi nơi các thứ "thần" giả dối khác, như thần rượu, thần ma-túy, thần á-phiện hay những phương tiện bịp bợm khác, những thứ chỉ đưa dẫn những kẻ liên hệ vào trong một ngõ cụt không có lối thoát của cuộc sống.
Xin Chúa cho mỗi người chúng ta biết trở về cùng Thiên Chúa, tin tưởng tìm nương tựa nơi Thiên Chúa, vì Người là con đường duy nhất dẫn tới sự cứu rỗi, nếu người ta không muốn bị quanh quẩn trong ngõ cụt của định mệnh mình. Chấp nhận sự bất toàn và khả năng giới hạn của mình, cũng như biết tin tưởng phó thác vào sự trợ giúp của Thiên Chúa là một sự chọn lựa khôn ngoan và hợp lý mà mỗi người trong chúng ta cần phải quyết định, bởi vì sự hạnh phúc chân chính của chúng ta đều tùy thuộc vào đó. Amen

Bài giảng Chúa Nhật XIX Thường Niên (JosKieu)

Đừng sợ
Thánh Mactinô thành Tua, hồi còn trai trẻ, một lần đi qua ngọn núi Anpơ, Ngài bị rơi vào tay bọn cướp. Chúng lấy hết hành lý và tiền bạc của Ngài. Một tên cầm dao kề vào cổ Ngài và đòi giết Ngài. Ngài vẫn đứng yên chờ chết. Dáng vẻ bình tĩnh và can đảm của Ngài đã khiến tên đầu đảng giật mình thán phục. Hắn vội chạy tới giật phăng con dao và hỏi Ngài tại sao không tỏ vẻ sợ hãi gì hết khi cái chết nằm kề bên cổ.
Ngài trả lời cho bọn chúng rằng: đã có Thiên Chúa hằng thương yêu săn sóc Ngài lúc còn sống cũng như khi chết, thì cái chết có ý nghĩa gì mà Ngài phải sợ.
Bài Tin mừng hôm nay thuật lại sau khi Chúa Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, dân chúng quá vui mừng phấn khởi. Còn Chúa Giêsu thì Ngài biết rõ những dự tính của họ. Chúa không muốn người ta coi Chúa như một Đấng ban ơn cho họ được no nê cơm bánh, Chúa cũng không muốn người ta đến với Ngài chỉ để xin ơn thỏa mãn những nhu cầu vật chất của họ.
Chúa đã ra lệnh cho các tông đồ phải lên thuyền sang bờ bên kia ngay lập tức. Các môn đệ vâng lời Thầy ra đi, nhưng có lẽ các ông không được hài lòng. Các ông cũng mong đợi ngày Chúa Giêsu hoàn tất sứ mạng cứu thế của Ngài, để các ông có thể được dự phần với Thầy hoặc được thăng quan tiến chức…, cơ hội đó hôm nay đã đến nhưng Chúa lại từ chối. Bất mãn, chán nản và mệt nhọc làm cho các ông ngã lòng. Hình ảnh các tông đồ phải chống chọi với sóng biển vì ngược gió cũng diễn tả được một phần nào tâm trạng thất vọng của các ông.
Chúa Giêsu biết rõ tâm trạng của các ông, ngài ở lại bờ bên này, nhưng vẫn theo dõi các ông không những bằng ánh mắt, mà bằng cả tấm lòng khi Ngài lên núi và suốt đêm cầu nguyện cho các ông. Ngài thấy các ông chèo thuyền vất vả vì ngược gió. Chính lúc đó, Ngài đi trên mặt biển để đến với các ông để các ông hiểu rằng : Ngài có quyền năng trên vũ trụ vạn vật, Ngài có chương trình của Ngài và Ngài sẽ thực hiện chương trình ấy khi giờ của Ngài đến.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta đặt tất cả tin tưởng vào quyền năng và tình thương của Chúa. Ngài có chương trình cho mỗi người chúng ta. Điều quan trọng không phải là chúng ta bắt Chúa làm theo ý chúng ta, để rồi khi không được như ý nguyện, chúng ta tỏ ra buồn phiền, than trách Chúa. Trái lại, chúng ta hãy đặt hết tin tưởng vào Chúa. Ngài vẫn hiện diện bên cạnh và sẵn sàng cứu giúp chúng ta. Chúng ta hãy tin tưởng phó thác vào quyền năng yêu thương của Ngài, và như thế tâm hồn chúng ta sẽ gặp được bình an.
Vào năm 1978, lúc khởi đầu triều đại Giáo hoàng, ĐGH G.P II đã ngỏ lời với thế giới : “Những ai trong anh em vẫn may mắn còn có đức tin, vẫn đi tìm Thiên Chúa, những ai đang bị sự nghi ngờ xâu xé. Đừng sợ hãi! Hãy tin nhận Chúa Giêsu và nhận lấy quyền lực của Ngài. Đừng sợ hãi! Hãy mở cửa đón nhận Chúa Giêsu, vì Ngài là sức mạnh chữa lành mọi sự dữ… Đừng sợ hãi! ĐGH Benêdic 16, trong bài giảng khai mạc sứ vụ mục tử, Ngài cũng lấy lại tư tưởng của ĐGH G.P II : “Các con đừng sợ, hãy mở ra, hãy mở rộng mọi Cửa cho Chúa Kitô, và chúng ta sẽ gặp được sự sống thật”.
Đừng sợ! Đó là câu nói đã trở nên nổi tiếng của 2 vị lãnh đạo Giáo hội, và là phương châm cho mọi hoạt động của các Ngài. Đừng sợ! Đó cũng là câu nói được lập đi lập lại nhiều lần trong Tin mừng : “Các con đừng sợ ……”. Chúa Giêsu đã nhắc nhở các tông đồ Đừng sợ! Để củng cố lòng tin, tăng cường đức cậy và khơi lên lòng mến nơi chúng ta.
Khi nói với các tông đồ Đừng sợ! Chúa muốn củng cố đức tin của các ông thêm vững mạnh trước những gian nan thử thách trong cuộc sống :
- Khi kêu gọi các tông đồ hãy luôn tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa, Chúa Giêsu nói : Hỡi đoàn chiên nhỏ bé, Đừng sợ! Vì Cha các con đã vui lòng ban nước trời cho các con.
- Khi họ gặp thử thách bách hại, Chúa trấn an các ông : Khi người ta bắt nộp các con, đừng lo phải nói gì, vì trong giờ đó, Thiên Chúa sẽ dạy cho các con biết phải nói gì.
- Trong bài Tin mừng hôm nay, khi thấy các ông chèo thuyền vất vả giữa sóng to gió lớn, Chúa đi trên mặt biển đến với các ông và nói : Hãy yên tâm, Thầy đây, Đừng sợ!
Đã làm người, ai trong chúng ta cũng có những nỗi lo sợ riêng : Sợ thất bại, sợ cô đơn, sợ chết, sợ mất linh hồn sa hỏa ngục…đó là điều tự nhiên. Chúa dạy chúng ta phải biết tin tưởng vào quyền năng của Chúa đang hoạt động nơi mỗi người chúng ta. Chúa luôn ở bên cạnh chúng ta và ngài sẽ xuất hiện đúng lúc, kịp thời để cứu giúp chúng ta khi chúng ta cầu cứu đến ngài.
Đừng sợ! Đó là điệp khúc của lòng tin đã nâng đỡ sự yếu đuối của các tông đồ và thúc đẩy các ông can đảm tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giêsu. Điệp khúc của lòng tin ấy vẫn còn âm vang bên tai chúng ta hôm nay, khi đối diện với những lo âu, sợ hãi hay những sóng gió của cuộc đời. Xin Chúa giúp chúng ta biết lắng nghe lời Chúa trấn an Đừng sợ! Để chúng ta cũng biết can đảm vượt qua mọi khó khăn thử thách trong cuộc sống với một lòng tin vững vàng : Có Chúa luôn ở bên chúng ta và Ngài sẽ giải thoát chúng ta khỏi mọi điều lo sợ.

Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2011

Bài giảng Chúa Nhật XVIII Thường Niên (JosKieu)

PHÉP LẠ HÓA BÁNH RA NHIỀU
Bài giảng dành cho Thiếu nhi

Một hôm kia, khi nghe tin Thánh Gioan tẩy giả bị Vua Hêrôđê chém đầu, Chúa Giêsu rời bỏ nơi đó đi đến một nơi hoang vắng, có rất đông dân chúng đi theo Người. Thấy dân chúng đi theo và đang đói, động lòng thương, Chúa Giêsu đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi họ (5000 người). Chúa Giêsu không để cho những ai đi theo Chúa phải chết đói.
Xưa trong Cựu ước, tiên tri Ê-li-sê cũng làm phép lạ hóa bánh ra nhiều (từ 20 chiếc bánh nuôi 100 người ăn) trong một nạn đói, họ ăn no nê mà vẫn còn dư. Trong Tân ước, Chúa Giêsu làm phép lạ tương tự (từ 5 chiếc bánh nuôi 5000 người ăn) và còn dư 12 thúng đầy. Ê-li-sê là 1 tiên tri vĩ đại, nhưng Chúa Giêsu là 1 tiên tri còn vĩ đại hơn nữa. (So sánh 1 chiếc bánh cho 5 người ăn với 1 với chiếc bánh cho 1000 người ăn gấp 200 lần). Phép lạ nói lên tình thương và sự quan phòng của Chúa Giêsu đối với dân của Người, minh chứng Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ mà Thiên Chúa hứa ban cho nhân loại.
Chúa Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để chúng ta tin, và nhờ tin mà chúng ta được ơn cứu độ. Nên điều giáo hội muốn đó là chúng ta biết lắng nghe và tin vào Chúa Giêsu. Phép lạ hóa bánh ra nhiều ngày xưa là hình bóng chỉ về Bí tích Thánh Thể mà Chúa Giêsu lập trong bữa tiệc ly ngày thứ năm tuần thánh, khi Chúa Giêsu và các môn đệ ăn bữa tiệc cuối cùng. Trong bữa tiệc đó Chúa Giêsu đã cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ.
Chúa Giêsu đã yêu thương mọi người, Người dành tình yêu thương đặc biệt cho các em thiếu nhi, và Người yêu đến cùng. Người không nghĩ ra cách thế nào khác để yêu thương các em hơn là lấy chính chính Thịt và Máu Chúa làm của ăn nuôi dưỡng các em và muốn ở cùng các em luôn mãi. Vì vậy, để đáp lại tình Chúa yêu thương, các em hãy khao khát yêu mến Chúa và dọn tâm hồn cho xứng đáng để đón rước Chúa mỗi ngày.
Trong 7 Bí tích Chúa Giêsu đã lập thì Bí tích Thánh Thể là Bí tích cao trọng nhất vì ban cho chúng ta chính Chúa Giêsu là nguồn mọi ơn phúc. Muốn rước lễ, giáo hội chỉ đòi 3 điều kiện : 1. Sạch tội trọng, 2. Có ý ngay lành, và 3. Giữ chay 1 giờ trước khi rước lễ. Khi rước lễ, các em còn được Chúa ban nhiều ơn, đặc biệt là 4 ơn này : 1. Được kết hợp mật thiết với Chúa và với anh em, 2. Được Chúa tha các tội nhẹ và thêm ơn thánh hóa. 3. Được Chúa ban sức mạnh để chống lại chước cám dỗ của ma quỷ. 4. Được hưởng sự sống đời đời.
Gương thánh Đaminh Saviô rất yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể và Chúa đã ban cho Saviô rất nhiều ơn.
Mới lên 7 tuổi, Saviô đã ước ao được rước Chúa Giêsu Thánh Thể vào lòng. Theo luật phải 12 tuổi mới được, nhưng thấy Saiô là một cậu bé ngoan ngoãn, đạo đức thánh thiện nên các cha và mọi người đều đồng ý cho Saviô được rước lễ sớm hơn luật cho phép.
Gần tới ngày hạnh phúc đó, Saviô đã thưa với mẹ: ngày mai con được rước lễ lần đầu, xin mẹ tha thứ các lỗi lầm cho con, con hứa sẽ sống ngoan hơn, đến trường con chăm học, về nhà con vâng lời, chịu khó giúp đỡ cha mẹ. Sáng hôm đó, Saviô thức dậy sớm và phải đi bộ 4 cây số mới tới nhà thờ, lúc đó nhà thờ chưa mở cửa. Saviô đã quì ngoài cửa nghiêm trang sốt sắng để cầu nguyện.
Sau khi rước lễ, Saviô đã ghi vào sổ tay những quyết tâm :
1. Xưng tội mỗi tháng 1 lần và không bao giờ bỏ rước lễ.
2. Thánh hóa tất cả mọi ngày lễ.
3. Bạn thân của con là Chúa Giêsu và Mẹ Maria.
4. Thà chết còn hơn phạm tội.
Và Saviô đã giữ những quyết này đến trọn đời, nên gương mẫu cho tất cả các thiếu nhi.
Trong thánh lễ hôm nay, chúng con hãy cầu xin Chúa ban cho chúng con được lòng yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể, siêng năng tham dự thánh lễ và rước lễ hàng ngày, nhất là xin Chúa giữ gìn tâm hồn chúng con luôn trong sạch, xứng đáng là đền thờ cho Chúa ngự và để chúng con xứng đáng với danh hiệu là thiếu nhi Thanýh Thể của Chúa. Amen.

JosKieu

Thứ Năm, 28 tháng 7, 2011

Bài giảng Chúa Nhật XVIII Thường Niên (Văn Hương)

Chủ Đề : HÓA BÁNH CHO ĐỜI.
Matthêô : 14,13-21.
----------------------------------------------------------------------------------------
Cộng đoàn phụng vụ thân mến,
Một trong hai nhu cầu cơ bản không thể thiếu để sinh tồn của con người là của ăn. Và bài Tin mừng hôm nay cho thấy Thiên Chúa là Đấng dưỡng nuôi chúng ta. Ngài không chỉ quan tâm đến các nhu cầu vật chất của con người, nhưng còn làm no thỏa đời sống tâm linh nhân loại.
Phép lạ hóa bánh ra nhiều được Chúa Giêsu thực hiện sau khi Ngài giảng dạy, chữa lành những bệnh tật thể xác của dân chúng. Tức là những người theo Chúa Giêsu vào nơi hoang vắng chỉ được ăn no nê sau khi đã nghe Lời Chúa. Điều này nói lên sự sống linh hồn phải được ưu tiên hàng đầu, trên cả việc kiếm tìm những thứ nuôi thân xác, như Chúa Giêsu đã từng mời gọi : “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho”(Mt 6,33). Như thế, sự hiện hữu của con người nơi trần gian không phải để hưởng thụ hay kiến tạo sự thỏa mãn cho những đòi hỏi của thân xác, nhưng là hành trình tìm đến với Thiên Chúa trong sự quan phòng của Ngài. Bằng chứng là dấu lạ hóa bánh ra nhiều không do con người đòi hỏi hay thỉnh cầu, nhưng được hiện thực hóa bởi sáng kiến từ sự quan tâm và lòng thương xót của Chúa Giêsu đối với dân chúng. Thiết nghĩ, chúng ta nên học nơi Chúa Giêsu, biết nắm bắt ước muốn của người khác, đồng thời có những phương thế phục vụ họ một cách hiệu quả. Lời Chúa Giêsu nói với các môn đệ năm xưa : “Các con hãy cho họ ăn”, giờ đây đang mời gọi mỗi người chúng ta. Vì Thiên Chúa cần có những con người cộng tác vào công cuộc cứu độ nhân loại, qua việc xoa dịu các nỗi khốn khổ thể lý mà con người gặp phải, trước hết là cảnh đói nghèo. Trong sứ mệnh này, điều quan trọng không hệ tại ở nơi chúng ta có cái gì để trao ban, nhưng là chúng ta cho đi như thế nào. Người ta vẫn thường nói : “của cho không bằng cách cho”, miễn là chúng ta biết bắt đầu san sẻ trong tinh thần đức tin. Chúa sẽ thực hiện những gì còn lại. Hãy suy gẫm về năm chiếc bánh và hai con cá nhỏ đơn sơ để thấy Thiên Chúa làm những việc lớn lao, kỳ diệu từ nỗ lực đóng góp xem ra không đáng kể của chúng ta. Như thế, chỉ cần chúng ta hiến thân trọn vẹn, cho dù tài nguyên, năng lực, văn hóa, sức khỏe của chúng ta yếu kém. Chúa Giêsu vẫn sẽ dùng chúng ta để thực hiện công việc của Ngài.
Cộng đoàn phụng vụ thân mến,
Có thể khẳng định, mục đích của những người đi theo Chúa Giêsu xưa kia không phải để được ăn, nhưng vì Chúa Giêsu đáp ứng được sự đói khát Thiên Chúa nơi họ. Chính khát vọng cao siêu này đã dẫn tới việc Chúa Giêsu hóa bánh ra nhiều trước sự bất lực của con người. Thực vậy, chỉ với năm chiếc bánh và hai con cá thì làm sao cứu đói năm ngàn người đàn ông chưa kể đàn bà con trẻ. Ở đây, chúng ta nên học đức vâng lời của các môn đệ, đem phân phát số lương thực ít ỏi đó cho dân chúng để rồi thu về mười hai thúng những mẩu bánh vụn. Sự dư dật này là một dấu chỉ được loan báo cho thời kỳ của Đấng Mê-si-a trong Kinh thánh : “Ta sẽ đổ xuống muôn hồng ân, cho Xion được lương thực dồi dào và ban cho kẻ nghèo được no nê cơm bánh”(Tv 132,15). Ước gì lời Chúa hôm nay nhắc nhớ chúng ta ý thức về vinh dự được tham gia vào chính công việc của Chúa Giêsu, đóng vai trò trung gian giữa Thiên Chúa và con người trong việc “hóa bánh ra nhiều” cho con người ngày nay.
Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho những đấng kế vị các sứ đồ và những người có trách nhiệm trên các linh hồn, kể cả các nhà giáo dục và phụ huynh Kitô giáo. Biết phân phát không chỉ lương thực bổ dưỡng linh hồn là lời Chúa và Thánh thể, nhưng còn chung tay xây dựng cuộc sống vắng bóng sự nghèo đói. Chúng ta cũng cầu nguyện cách riêng cho các linh mục, là những người được chính thức ủy thác thi hành công việc của Chúa Giêsu, đồng thời cầu nguyện cho cả chúng ta nữa, vì chúng ta cũng được tham dự vào theo cách thế riêng, bằng cách dẫn đưa những kẻ mà chúng ta có trách nhiệm coi sóc đến bàn tiệc Thánh Thể và dạy cho biết lời Thiên Chúa.
Như Chúa Kitô đã quan tâm đến các nhu cầu vật chất của quần chúng, thì chúng ta cũng phải làm hết sức để chu toàn bổn phận căn bản của Kitô hữu, bổn phận mà nếu cố gắng hoàn thành thì sẽ lãnh nhận phần thưởng Nước trời : "Hãy đến, hỡi những kẻ được Cha Ta chúc phúc, vì ... xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn" (25, 34- 35). Amen

Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2011

Bài giảng Chúa Nhật XVII Thường Niên (Văn Hương)

Chủ Đề : TÌM KIỀM NƯỚC TRỜI.
Matthêô : 13,44-52.
----------------------------------------------------------------------------------------
Kính Thưa quý ông bà và anh chị em,
Chúng ta vừa nghe một trích đoạn lời Chúa trong Tin mừng Thánh Matthêô, gồm ba dụ ngôn nói đến giá trị vô song của Nước trời. Qua đó, cho chúng ta phương thế để chiếm hữu, đồng thời mời gọi mỗi người chúng ta nhìn lại cuộc đời mình. Bấy lâu nay chúng ta sống và nỗ lực làm việc hướng đến sự vĩnh hằng là Nước Thiên Chúa hay là những vinh hoa chóng qua của thế gian.
Có thể nói, Nước trời hiện hữu giữa trần gian và trong chúng ta, nhưng không phải ai cũng có khả năng nhận biết và dự phần. Vì Nước trời được sánh ví như kho báu chôn giấu trong ruộng, nếu không bỏ công sức tìm kiếm chắc chắn sẽ không gặp. Do đó, cần đến yếu tố khách quan là thời gian và yếu tố chủ quan là ý chí. Như vậy, điều kiện đầu tiên không thể thiếu trong quá trình chinh phục Nước Chúa là nhận thức chính xác về cùng đích của đời người và lòng khát khao đạt được cùng đích đó qua sự kiên trì kiếm tìm. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc gặp thấy Nước Thiên Chúa, tức là việc tìm kiếm thành công thì vẫn chưa đủ, cần phải đánh đổi như những nhân vật trong bài Phúc âm, “vui mừng bán tất cả những gì mình có”(x. Mt 13, 44.46) để có thể mua và được sở hữu. Đây là bước quyết định cho sự tồn vong của bản thân, cho nên, đòi hỏi sự từ bỏ và lòng dũng cảm. Như thế, Nước trời không có chỗ cho những ai ăn không ngồi rồi, hèn nhát, bám víu lấy sự phù vân thế gian. Và dụ ngôn lưới cá thả xuống biển bắt được mọi thứ cá khẳng định điều này : Nước trời thuộc về mọi người, nhưng không có nghĩa ai cũng được vào, chỉ có những kẻ xứng đáng, sau khi đã vượt qua cuộc thanh lọc như người ta lựa cá tốt bỏ vào giỏ, còn cá xấu thì mén ra ngoài. Nói cách khác, Nước trời thời con người dương gian tìm kiếm để chiếm hữu được diễn tả qua hai dụ ngôn : Kho báu và Viên ngọc quý, còn dụ ngôn Lưới cá nói về Nước Chúa thời chung thẩm. Vào ngày này, chỉ có những ai sống triệt để tinh thần của người tìm thấy kho báu, hoặc của người buôn ngọc mới có Nước trời làm gia nghiệp. Như thế, cuộc sống của chúng ta nơi trần gian tuy ngắn ngủi, qua mau, nhưng lại quyết định đến đời sống bất diệt sau này. Bởi đó, “Trước hết, hãy lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa, và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6, 33), đừng để thời gian qua đi vô ích, nhưng hãy tận dụng sự vắn vỏi của kiếp người ngõ hầu tích luỹ cho mình kho tàng trên trời, nơi mối mọt không thể làm hư nát, và kẻ trộm không thể khoét vách lấy mất, chớ để mọi sự thành ra muộn màng mà bị liệt vào hàng ngũ kẻ dữ, phải khóc lóc nghiến răng trong lò lửa địa ngục.
Kính thưa quý ông bà và anh chị em,
Con người có khuynh hướng tìm kiếm những gì đảm bảo cho cuộc sống bản thân, đây là một nhu cầu không có sự thoả mãn, như cha ông ta thường nói : “lòng tham không đáy”, hoặc “có một đòi hai”, hay “được voi đòi tiên”, do đó, sự sống linh hồn luôn ở trong tình trạng bấp bênh vì không được chú trọng. Trong khi người đời có thói quen đánh giá và nhìn nhận sự khôn ngoan của nhau dựa trên thành quả vật chất, sự nghiệp, công danh, thì với Thiên Chúa tất cả những thứ đó chỉ là số không nếu linh hồn bị hư mất. Ước gì lời Chúa hôm nay giúp chúng ta chọn lựa sự khôn ngoan từ Thiên Chúa, vì như lời Thánh Phaolô trong thư thứ nhất gửi Côrintô : “Phần anh em, chính nhờ Thiên Chúa mà anh em được hiện hữu trong Đức Giêsu Kitô, Đấng đã trở nên sự khôn ngoan của chúng ta, sự khôn ngoan xuất phát từ Thiên Chúa, Đấng đã làm cho anh em trở nên công chính, đã thánh hoá và cứu chuộc anh em”(1Cr 1,30). Được như vậy, chúng ta mới chấp nhận trở nên trắng tay, tức là đánh đổi tất cả những gì mình có để nhận lãnh từ Thiên Chúa hiện tại và tương lai của mình, vì chưng, ai có Thiên Chúa là có tất cả, chỉ mình Ngài là đủ, đồng thời loại bỏ giá trị của những thứ mà thế gian coi trọng, đề cao. Đây là một chân lý chỉ có thể hiểu được nhờ kinh nghiệm sống.
Xin Chúa cho mỗi người chúng ta biết từ bỏ não trạng trần tục của mình như lòng lo sợ mất mát hay thiếu thốn, nỗi ám ảnh muốn được bảo đảm an toàn, hay chương trình sống ích kỷ do chúng ta lập ra, nhưng hiểu rõ cái được - và cái mất của đời sống, cũng như biết mặc lấy tâm tình của hai kẻ tìm thấy kho tàng và bắt gặp ngọc quý : “vui mừng” vì sự hy sinh không phải là một việc đau buồn, đồng thời biết chắc rằng bản thân không mất gì cả, chỉ là sự trao đổi những thứ chóng qua mà mình có để lấy sự sống đời đời là Nước trời. Amen

Thứ Năm, 14 tháng 7, 2011

Bài giảng Chúa Nhật XVI Thường Niên (Văn Hương)


Chủ Đề : HIỆN THỰC HOÁ NƯỚC TRỜI.
Matthêô : 13,24-43.
----------------------------------------------------------------------------------------
Cộng đoàn thân mến,
Chúng ta vừa nghe ba dụ ngôn nói về Nước trời, qua đó lý giải một số vấn đề trong cuộc sống mà chúng ta gặp phải, chẳng hạn như sự tồn tại giữa thiện và ác. Người hiền đức thì gặp toàn bất trắc khổ đau và ngược lại kẻ bất lương thì nhởn nhơ hưởng thụ. Như vậy, Nước Thiên Chúa ở đâu giữa thế gian đầy cạm bẫy, xô bồ và lắm nhiêu khê này.
Dụ ngôn cỏ lùng cho chúng ta thấy, Thiên Chúa là ông chủ ruộng, chấp nhận để kẻ dữ và người lành cùng tồn tại và phát triển như lúa và cỏ lùng cùng mọc lên. Trong khi cỏ lùng không thể thành lúa, thì người ác có thể hoàn lương. Và Thiên Chúa cho thời gian, tạo điều kiện, đồng thời chờ đợi sự biến đổi kỳ diệu này. Bởi vì, Thiên Chúa không muốn kẻ gian ác phải chết, như ông chủ ruộng không cho thợ nhổ cỏ lùng. Ngày tận thế, kẻ dữ, tức những người cố chấp, không chịu hoán cải, chẳng khác gì lời Thánh vịnh 36 câu 2 đến câu 5 : «Tội ác thì thào trong thân tâm kẻ dữ ; hắn không thấy cần phải kính sợ Chúa Trời. Hắn tự cao tự đại, nên chẳng thấy tội mình mà chê ghét. Lời nói toàn xảo quyệt dối gian, hết lẽ khôn ngoan, hết điều lương thiện ! nằm trên giường hắn bầy ra chước độc mưu thâm, hắn đứng lỳ trên nẻo đường bất hảo, không còn chê ghét việc gian tà» nên sẽ nhận lấy án phạt, vì Thiên Chúa không thể làm gì hơn ngoài việc quăng họ vào hoả ngục như cỏ lùng bị thiêu rụi trong lửa.
Có thể nói, hiện tại những thế của sự dữ như đau khổ, bệnh tật, cái chết phần nào lấn lướt, nhưng không có nghĩa Nước Thiên Chúa bị triệt tiêu. Dụ ngôn Hạt cải và Men trong bột cho thấy sức mạnh vô song và sự lan toả mãnh liệt của Nước Trời, mà Giáo hội chính là thực tại được khởi đầu bởi các Tông đồ với con số mười hai ít ỏi, nhưng nay đã rộng khắp thế giới. Nhìn vào Giáo hội, chúng ta thấy ở đó không chỉ có các thánh nhân, những thành phần ưu tú, nhưng Giáo hội còn cưu mang cả các phần tử tội lỗi, xấu xa nữa. Điều này nói lên sứ mệnh cũng như vai trò thánh hoá của Giáo hội. Như thế, Nước Thiên Chúa không hiện hữu như một vương quốc riêng biệt nhưng giữa trần gian và cho nhân gian. Hình ảnh hạt cải nhỏ bé phát triển thành cây cho chim trời nương náu và nắm men làm ba đấu bột dậy men nói với chúng ta : Nước Thiên Chúa là điểm tựa, nơi dung thân của tất cả mọi người, nhất là những kẻ bé mọn, khiêm tốn và có lòng khao khát được Tin mừng biến đổi tận căn. Do đó, hãy để lời Chúa thánh hoá bản thân, dẫn dắt chúng ta luôn đi trên đường ngay nẻo chính, không sa vào con đường lầm lạc, đồng thời thanh tẩy tâm trí chúng ta khỏi mọi toan tính hiểm độc và những đam mê thấp hèn. Có như thế, chúng ta mới có khả năng nhận biết những «điều bí nhiệm từ lúc dựng nên thế gian» mà Chúa Giêsu Kitô mạc khải. Và Nước trời sẽ hiển trị nơi chính con người chúng ta.
Cộng đoàn thân mến,
Bổn phận của người Kitô hữu là trở nên hạt cải, nem bột để loại trừ sự dữ như thợ gặt nhổ cỏ lùng rồi đốt đi, ngõ hầu hiện thực hoá Nước trời nơi trần gian. Đây là một sứ mệnh hết sức khó khăn, vì không chỉ buộc chúng ta phải từ bỏ những dính bén, lôi kéo hấp dẫn của thế gian và xác thịt nhưng còn đòi hỏi chúng ta không ngừng nỗ lực nên Thánh, nên hoàn thiện như Chúa Cha ở trên trời là Đấng hoàn thiện. Tức là người khác có thể cảm nhận được Nước trời trong đời sống của chúng ta. Và để được như vậy, thiết nghĩ, chúng ta phải khiêm tốn, nhìn nhận mình là con người bất toàn yếu đuối, như lời Chúa trong sách tiên tri Giêrêmia : «Lạy Chúa, chúng con nhận rằng mình gian ác, và cha ông sai lỗi đã nhiều, quả chúng con đều đắc tội với Chúa»(Gr 14,20), để từ đó biết cậy dựa vào Chúa, sử dụng ân sủng của Ngài một cách hiệu quả. Ước gì lời Chúa hôm nay giúp chúng ta nhìn lại mình, xét xem chúng ta thuộc thành phần nào : là cỏ lùng xâm hại đồng lúa hay là lúa hướng về mùa gặt ; là chim trời chỉ biết nương tựa hay hạt cải cho tha nhân được nhờ ; là men để hoán cải người khác hay là bột để người khác lôi kéo.
Trong khi chờ đợi ngày của Chúa và làm cho ngày đó mau đến, hay nói cách khác, để hiện thực hoá lời nguyện : «Xin cho Nước Cha trị đến». Chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta biết sống chừng mực và tiết độ với một đức tin tinh tuyền không chi đáng trách. Bởi vì «Thiên Chúa đã không kêu gọi chúng ta sống ô uế, nhưng sống thánh thiện»(1Th 4,7), đồng thời dạy chúng ta phải yêu thương nhau. Xin cho lời Thánh Giacôbê sau đây hướng dẫn đời sống đạo của chúng ta : «Anh em hãy giũ sạch mọi điều ô uế và mọi thứ độc ác còn lan tràn ; hãy khiêm tốn đón nhận lời đã được gieo vào lòng anh em ; lời ấy có sức cứu độ linh hồn anh em»(Gc 1,21). Amen

Bộ sưu tập hình hang đá máng cỏ

Liên kết các Blog

  • - CHÚA NHẬT 27 THƯỜNG NIÊN – B KÍNH TRỌNG THỂ ĐỨC MẸ MÂN CÔI Is 61,9-11; Gl 4,4-7; Lc 1,26-38 CHỦ ĐỀ: MARIA, NGƯỜI NỮ ĐỨC TIN SỨ ĐIỆP: Siêng năng lần hạt; ca...

Album CHẶNG ĐÀNG THÁNH GIÁ

Album SAO CON KHÔNG CÓ LỜI RU

Lượt xem:

Web Page Traffic Counter

Powered By Blogger